Đường dạo, chòi nghỉ và cầu gỗ là bộ khung đi lại của một khu vườn lớn: lối đi tốt khô ráo sau mưa, đủ thoải cho người già, dẫn tới những chỗ đáng ngồi; chòi nghỉ đặt ở chỗ có bóng, có gió và có tầm nhìn; cầu gỗ chắc, có lan can và không trơn. Trang viên có vườn đẹp mà không có lối đi tử tế là trang viên mà gia đình chỉ ngắm từ hiên, vì bước ra là bùn, cỏ ướt, dốc trơn.
Bài này đi qua cách chia cấp lối đi, chọn vật liệu theo khí hậu, làm bậc và rãnh trên đất dốc, dựng chòi nghỉ, làm cầu gỗ an toàn, đặt đèn và bảo trì theo mùa. Những công trình có kết cấu như chòi lớn, cầu dài, đường xe trên sườn dốc, kè giữ đất đều cần kỹ sư tính; phần dưới chỉ là nguyên tắc để gia đình biết hỏi đúng và nhìn ra chỗ chưa ổn.
Chia cấp lối đi: không phải lối nào cũng như nhau
Một khu đất lớn thường cần bốn cấp đường đi. Chia cấp giúp tránh lát cứng cả khu vườn, và tránh để xe tải đi trên lối dạo mỏng manh.
| Cấp | Dùng cho | Bề rộng và mặt | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Đường xe nội bộ | Xe chở vật liệu, xe cứu hoả, xe khách | Đủ cho một xe đi, có chỗ tránh; mặt cứng chịu tải | Trên đất dốc cần kỹ sư tính độ dốc, rãnh và nền |
| Lối chính | Từ cổng, bãi xe vào nhà; nhà chính sang nhà phụ | Hai người đi song song, xe lăn qua được; mặt cứng, phẳng | Có đèn, không bậc cao, thoát nước tốt |
| Lối dạo | Vòng quanh vườn, ra hồ, ra chòi | Một người đi thoải mái; sỏi, đá tảng, gạch | Uốn theo địa hình, có điểm dừng |
| Lối mòn | Vào rừng nhỏ, ra vườn xa | Hẹp, mặt dăm gỗ hoặc đất nện | Gần như tự nhiên, chỉ cắt cỏ và dọn cành |
Lỗi phổ biến là dùng vật liệu của lối chính cho mọi lối, như đổ bê tông hết các đường trong vườn. Kết quả là khu vườn nóng hơn, nước mưa chảy tràn nhiều hơn, và cảm giác vườn mất đi.
Ngược lại, lối chính làm bằng sỏi rời hay dăm gỗ sẽ khó cho xe lăn, xe đẩy em bé, và người già chống gậy. Lối nào đi hằng ngày, lối đó phải chắc và phẳng.
Vật liệu mặt lối đi theo khí hậu
Sỏi và đá dăm. Thoát nước tốt, rẻ công, dễ sửa, tiếng lạo xạo dễ chịu. Cần viền mép bằng gạch hay đá để sỏi không tràn ra cỏ, và lớp nền nện chặt bên dưới để không lún thành vệt. Sỏi tròn lăn dưới chân, nên chọn đá dăm góc cạnh cho lối có độ dốc.
Đá tảng, đá bậc đặt trên cỏ hoặc sỏi. Tự nhiên, hợp với vườn kiểu nhà vườn xưa. Khoảng cách giữa các viên phải theo bước chân người lớn bình thường, mặt đá nhám, không dùng đá mài bóng vì trơn khi ướt.
Gạch nung, gạch thẻ. Đẹp với nhà vườn kiểu truyền thống và Đông Dương, lâu năm có rêu xanh. Nhưng rêu trên gạch ở chỗ bóng râm ẩm là nguyên nhân trượt ngã hàng đầu; cần chà rêu định kỳ hoặc đặt gạch ở chỗ có nắng.
Dăm gỗ, vỏ cây. Mềm, êm, hợp lối mòn trong rừng nhỏ và vườn cây ăn trái. Phân huỷ dần, cần bổ sung mỗi một hai năm; không hợp chỗ trũng hay ngập.
Đất nện, đất trộn vôi. Kiểu sân đất của nhà quê xưa, mát chân, rẻ. Bền khi nện kỹ và thoát nước tốt, nhưng mùa mưa dài có thể nhão bùn ở chỗ thấp.
Bê tông và lát cứng. Chỉ nên dùng cho đường xe và lối chính. Có thể làm bê tông có khe trồng cỏ hoặc tấm lát có khe để nước thấm bớt xuống đất.
Lối đi trên đất dốc: bậc, rãnh và tay vịn
Ở khu đất đồi như Lâm Đồng hay Tây Nguyên, lối đi đi thẳng từ trên xuống dưới là lối sẽ thành rãnh xói sau mùa mưa đầu tiên. Lối nên chạy chéo theo sườn hoặc uốn theo đường đồng mức, chỉ đi thẳng ở những đoạn ngắn có bậc.
Bậc thang ngoài trời nên thấp và rộng hơn bậc trong nhà, để đi thoải mái khi mang đồ, khi trời ướt, khi người già và trẻ nhỏ đi. Chiều cao các bậc trong cùng một đoạn phải đều nhau; một bậc cao bất thường giữa dãy là chỗ người ta vấp ngã. Mặt bậc nghiêng nhẹ ra ngoài để nước không đọng.
Cứ một đoạn, lối dốc cần một rãnh cắt ngang hoặc một gờ chéo để chuyển nước mưa sang bên, không để nước chảy dọc suốt chiều dài lối. Đây là chi tiết đơn giản nhất mà quyết định lối đi bền hay xói lở.
Lối dốc mà người lớn tuổi đi hằng ngày cần tay vịn một hoặc hai bên, cao vừa tầm tay, chắc chắn. Có thể làm bằng gỗ, ống thép sơn hay dây thừng lớn buộc vào cọc cho hợp cảnh vườn. Mọi đoạn có taluy đào hoặc đắp cao, kè đá giữ đất, hay đường cho xe trên sườn dốc nên mời kỹ sư địa kỹ thuật hoặc kỹ sư xây dựng xem, vì sạt lở mùa mưa là rủi ro thật ở vùng đồi.
Chòi nghỉ: đặt ở đâu và dựng thế nào
Ở Huế xưa, một số phủ đệ và nhà vườn có một gian thuỷ tạ nhỏ bên hồ hay một chiếc đình nghỉ trong vườn, nơi chủ nhà ngồi đọc sách, uống trà, ngắm sen. Chòi nghỉ của trang viên hôm nay thừa hưởng tinh thần ấy: một chỗ ngồi tách khỏi nhà, gần cây và nước.
Chòi nghỉ là nơi gia đình đi tới, ngồi lại. Chỗ đẹp nhất thường là nơi có tầm nhìn ra mặt hồ, thung lũng hay cánh đồng, có bóng cây lớn che nắng chiều và đón được gió mát mùa hè. Một chòi đặt ở cuối lối dạo, cách nhà một quãng vừa phải, cho người ta cớ để đi bộ.
Nền chòi nên cao hơn mặt đất xung quanh để không đọng nước, có mặt sàn dễ lau. Mái có thể lợp lá, ngói, tôn có lớp cách nhiệt; mái lá đẹp và mát nhưng phải thay sau vài năm và dễ bắt lửa, nên đặt xa chỗ đốt lửa nướng. Cột gỗ chôn trực tiếp xuống đất sẽ mục chân nhanh và bị mối; nên kê cột trên chân đá hoặc đế bê tông.
Ở vùng đồi trống, chòi đặt trên đỉnh gò cao là chỗ dễ bị sét đánh trong giông. Không trú trong chòi nhỏ ở chỗ cao trống khi có sấm sét. Chòi có mái kim loại lớn hoặc ở vị trí cao, nhiều người ngồi, nên hỏi kỹ sư điện về chống sét.
Chòi lớn, chòi hai tầng, chòi có sàn treo trên mặt hồ hay sườn dốc là công trình có kết cấu, cần kỹ sư thiết kế. Với công trình phụ trên đất vườn, gia đình cũng nên hỏi UBND cấp xã về việc có cần giấy phép xây dựng không, tuỳ loại đất và quy mô.
Cầu gỗ qua mương và hồ: đẹp nhưng phải an toàn
Chọn gỗ bền nước. Gỗ ngoài trời ở khí hậu nóng ẩm bị mục, mối, nấm. Chọn loại gỗ tự nhiên bền nước hoặc gỗ đã qua xử lý phù hợp, và hỏi người làm có kinh nghiệm về loại gỗ dễ tìm ở địa phương. Sàn cầu nên có khe hở nhỏ để nước thoát nhanh.
Chống trơn. Sàn gỗ ướt có rêu trơn không kém gạch rêu. Có thể xẻ rãnh ngang trên mặt ván, gắn nẹp chống trượt, chà rêu định kỳ, và tránh đặt cầu trong bóng râm ẩm quanh năm.
Lan can. Cầu qua mặt nước sâu cần lan can hai bên, cao đủ, khe hở nhỏ để trẻ không chui lọt. Cầu thấp kiểu nhà vườn Nhật qua dòng nước nông vẫn cần cân nhắc khi nhà có trẻ nhỏ.
Chân cầu. Chân cầu đặt trên đế bê tông hay đá, không cắm gỗ trực tiếp xuống bùn. Cầu dài, cầu cao hơn mặt nước, cầu cho nhiều người đứng cùng lúc cần kỹ sư tính tải.
Kiểm tra mỗi năm. Gõ thử từng ván, lắc thử lan can, xem chân cầu có lún không. Thay ngay ván mục; một tấm ván gãy giữa cầu là tai nạn chờ sẵn.
Đèn lối đi: đủ sáng mà không mất bầu trời đêm
Một trong những lý do người thành phố về trang viên là để thấy bầu trời đêm và nghe tiếng côn trùng. Đèn sân vườn bật sáng trưng cả đêm làm mất cả hai, và kéo côn trùng bay về quanh nhà.
Nguyên tắc là đèn thấp, chiếu xuống mặt đất, ánh sáng màu ấm, chỉ đặt ở lối chính, bậc thang, mép hồ, cầu và cửa chòi. Lối dạo xa và rừng nhỏ có thể không cần đèn cố định; dùng đèn pin khi đi đêm. Đèn có cảm biến chuyển động hoặc hẹn giờ tắt lúc khuya giúp tiết kiệm điện và trả lại bóng tối.
Đèn chiếu ngược lên tán cây lớn tạo cảnh đẹp, nhưng nên dùng tiết chế, chỉ một hai cây làm điểm nhấn và tắt sau giờ tiệc. Ánh sáng chiếu lên trời vừa phí điện vừa làm mất cảnh sao trên trang viên.
Đèn năng lượng mặt trời rất tiện cho lối xa nhà, không phải đi dây; nhưng mùa mưa nhiều ngày âm u có thể không đủ sáng. Với lối chính và bậc thang, nên đi dây điện ngầm do thợ điện có tay nghề làm, có thiết bị chống giật, đặc biệt gần hồ và chỗ ẩm ướt.
Bảo trì lối đi, chòi và cầu theo mùa
Nhịp việc dưới đây hợp với khu đất có mùa mưa và mùa khô rõ rệt; vùng có mùa đông lạnh ẩm như miền Bắc thì chà rêu nhiều hơn vào mùa nồm.
- Trước mùa mưa: khơi thông rãnh ngang trên lối dốc và rãnh dọc lối chính; dọn lá trong máng xối mái chòi; kiểm tra mái lá, ngói vỡ.
- Trong mùa mưa: sau mỗi trận mưa lớn đi xem chỗ xói, chỗ đọng nước, chỗ sỏi trôi; sửa sớm khi còn nhỏ.
- Cuối mùa mưa: chà rêu trên bậc gạch, đá, sàn cầu; bổ sung sỏi, dăm gỗ cho lối dạo.
- Mùa khô: kiểm tra mối mọt ở cột chòi, ván cầu; sơn hay bôi dầu bảo vệ gỗ khi gỗ khô; dọn cỏ khô quanh chòi mái lá để phòng cháy.
- Mỗi năm một lần: lắc thử lan can, tay vịn; gõ thử ván cầu; kiểm tra hệ đèn và dây điện ngoài trời.
Một cuốn sổ nhỏ ghi ngày sửa, chỗ sửa, vật liệu dùng giúp người giữ nhà làm đúng việc khi chủ vắng, và giúp gia đình biết phần nào của vườn đòi hỏi nhiều công nhất để điều chỉnh khi làm thêm.
Câu hỏi thường gặp
Lối đi trong vườn nên rộng bao nhiêu?
Tuỳ cấp lối. Lối chính nên đủ cho hai người đi song song hoặc một xe lăn đi thoải mái. Lối dạo đủ cho một người đi không chạm cây hai bên. Lối mòn trong rừng có thể hẹp hơn. Nên đo theo người dùng thật, nhất là khi nhà có người già hoặc người dùng xe lăn.
Có nên làm đường dạo bằng gỗ đặt trên mặt đất không?
Sàn gỗ đặt nổi rất đẹp ở chỗ ẩm, đất yếu hay quanh hồ, và giữ được rễ cây bên dưới. Nhưng gỗ ngoài trời cần bảo trì, dễ trơn khi có rêu, và mối có thể tấn công nếu gỗ chạm đất. Nên kê trên chân đế và chọn gỗ bền.
Chòi mái lá có bền không?
Mái lá dừa nước, lá cọ, tranh cho cảm giác mát và gần gũi, nhưng thường phải thay sau vài năm tuỳ loại lá và độ dốc mái. Mái lá dễ bắt lửa, nên đặt xa chỗ nướng, đốt rác và có bình chữa cháy gần đó. Mái ngói hay mái tôn cách nhiệt bền hơn.
Làm cầu gỗ qua mương có cần xin phép không?
Cầu nhỏ qua mương trong đất nhà mình thường đơn giản, nhưng nếu mương là kênh thoát nước chung hoặc ranh với đất người khác, hay cầu có quy mô lớn, thì nên hỏi UBND cấp xã trước. Không làm cầu thu hẹp dòng chảy chung gây ngập cho hàng xóm.
Đất dốc trơn trượt mùa mưa thì làm lối đi tạm thế nào?
Có thể trải đá dăm góc cạnh, đặt các khúc gỗ ngang làm bậc tạm cố định bằng cọc, hoặc trải lưới chống trơn trên đoạn dốc nhất. Đây chỉ là giải pháp tạm; lối dốc dùng thường xuyên nên làm bậc chắc chắn có rãnh thoát nước.
Có nên rải sỏi trắng cho lối đi sáng sủa không?
Sỏi trắng nhìn sạch lúc mới rải nhưng dưới nắng nhiệt đới hắt sáng chói mắt, và nhanh bị bám rêu, đất thành màu xám bẩn. Đá dăm màu xám, nâu hay sỏi tự nhiên của địa phương thường hợp cảnh vườn hơn và dễ giữ vẻ gọn.