Hồ cảnh giữ được nước trong khi tảo không có đủ nắng và dinh dưỡng để bùng phát: mặt nước được che một phần bằng lá súng, sen hay bóng cây, có nhiều cây thuỷ sinh hút bớt dinh dưỡng, cá thả ít và cho ăn ít, lá rụng được vớt trước khi mục. Phần lớn các hồ cảnh bị xanh đục không phải vì thiếu máy lọc, mà vì quá nhiều nắng, quá nhiều cá, quá nhiều thức ăn và quá ít cây.
Bài này dành cho hồ cảnh đặt gần nhà trong một trang viên, loại hồ nhìn thấy từ hiên, có chòi nghỉ hay cầu gỗ bên cạnh. Hồ trữ nước lớn ở vùng xa đã nói ở bài riêng. Cách giữ nước dưới đây là cách của hồ tự nhiên, dựa vào cây và cân bằng sinh học; hồ nuôi cá koi mật độ cao là một chuyện khác, cần hệ lọc riêng.
Đặt hồ cảnh ở đâu và tạo dáng mép hồ
Hồ cảnh có giá trị nhất khi nhìn thấy được từ chỗ gia đình ngồi nhiều: hiên chính, phòng sinh hoạt chung, bàn ăn ngoài trời. Mặt nước phản chiếu bầu trời và tán cây làm khu vườn sâu hơn, và buổi chiều ngồi hiên nhìn ra hồ là một trong những lý do người ta làm trang viên. Nhưng đừng đặt hồ quá sát nhà: hơi ẩm, muỗi từ mép cạn, rễ cây thuỷ sinh tìm vào khe móng đều là phiền toái. Một khoảng sân hoặc thảm cỏ ở giữa vừa tạo tầm nhìn vừa giữ khoảng cách.
Hồ nên đặt ở chỗ đất thấp tự nhiên trong vùng giữa của khu đất, nơi nước mưa có thể bổ sung, nhưng không phải chỗ nước lũ chảy xiết qua. Tránh đặt ngay dưới cây lớn rụng lá quanh năm, và tránh chỗ phơi nắng từ sáng đến chiều không có bóng nào.
Về hình dáng, mép hồ uốn lượn tự nhiên với những đoạn nông, đoạn sâu khác nhau tạo nhiều chỗ ở cho cây và sinh vật hơn hồ hình học thành đứng. Hồ hình chữ nhật thành xây hợp với sân trong của nhà kiểu Đông Dương hoặc hiện đại, nhưng cần nhiều chăm sóc hơn vì ít cây mép nước. Một bãi sỏi thoải ở một đầu hồ là chỗ chim xuống uống nước, ếch lên bờ, và là lối thoát cho ai lỡ trượt chân.
Vì sao nước hồ cảnh chuyển xanh và đục
Nước xanh như nước rau thường là do tảo đơn bào lơ lửng. Chúng sinh sôi nhanh khi có ba thứ: nắng nhiều, nước ấm và dinh dưỡng dư, chủ yếu là các hợp chất nitơ và phốt pho đến từ phân cá, thức ăn thừa, lá mục, phân bón trôi từ vườn vào. Khí hậu nhiệt đới cho sẵn hai thứ đầu gần như quanh năm, nên việc kiểm soát nằm ở thứ ba và ở việc che bớt nắng.
Nước đục màu nâu hay vàng lại thường do bùn đất lơ lửng: cá đào bới đáy, nước mưa chảy tràn mang đất vào, hồ mới đào chưa ổn định. Loại đục này lắng dần nếu chặn được nguồn đất và giảm số cá bới đáy.
Rêu sợi bám thành từng búi dài trên đá và thành hồ lại là một kiểu tảo khác. Nó cũng sống nhờ nắng và dinh dưỡng, nhưng vớt tay được và thường giảm khi cây thuỷ sinh phát triển đủ. Một chút rêu trên đá thành hồ không có hại, nó là một phần của hồ sống; vấn đề chỉ khi nó phủ kín.
Hồ mới đào hoặc vừa thay nước gần như luôn trải qua một đợt nước xanh trong vài tuần đầu, trước khi cây và vi sinh vật kịp cân bằng. Đây là lúc nhiều gia đình vội thay nước lần nữa, và vòng lặp cứ thế tiếp diễn. Kiên nhẫn chờ, thêm cây, bớt cho cá ăn thường hiệu quả hơn.
Che nắng: một nửa mặt nước trong bóng
Lá nổi. Súng, sen, rau muống bè, bèo tai chuột nhỏ phủ một phần mặt nước, cắt ánh sáng xuống tầng nước bên dưới. Nhiều người chơi hồ lâu năm khuyên giữ khoảng một nửa đến hai phần ba mặt nước có lá che vào mùa nắng.
Bóng cây bên bờ. Một cây tán vừa ở phía tây hoặc tây nam hồ che nắng chiều gắt nhất. Chọn cây ít rụng lá hoặc rụng lá gọn trong một mùa để dễ vớt; tránh cây có trái hay hoa rụng liên tục xuống nước.
Chòi và cầu. Một chòi nghỉ xây lấn ra mặt nước hay một đoạn cầu gỗ cũng là mái che cho phần hồ bên dưới, và là chỗ cá trú nắng.
Màu đáy và độ sâu. Đáy hồ sẫm màu và đủ sâu giữ nước tầng dưới mát hơn, tảo phát triển chậm hơn so với hồ nông đáy sáng màu phơi nắng. Hồ thành xây sơn trắng hay xanh nhạt trông đẹp lúc mới làm nhưng thường là hồ khó giữ trong nhất ngoài trời nhiệt đới.
Đừng che kín. Hồ bị phủ toàn bộ bởi bèo hay lục bình thì thiếu ô xy, cây chìm chết, nước thối. Lục bình còn là loài lấn át rất mạnh, không nên thả vào hồ cảnh nối với mương hay suối vì dễ phát tán ra ngoài.
Bốn nhóm cây thuỷ sinh và việc của từng nhóm
Một hồ cảnh khoẻ thường có đủ bốn nhóm cây dưới đây, mỗi nhóm làm một việc khác nhau. Loài cụ thể chọn theo vùng khí hậu và độ sâu hồ.
| Nhóm | Vị trí | Việc chính | Ví dụ thường gặp |
|---|---|---|---|
| Cây chìm | Dưới mặt nước, đáy hồ | Hút dinh dưỡng, nhả ô xy, chỗ cá đẻ | Rong đuôi chó, rong lá hẹ, rong mái chèo |
| Cây lá nổi có rễ | Vùng nước sâu vừa | Che nắng, cảnh đẹp | Súng, sen |
| Cây trôi nổi | Mặt nước, tự do | Che nắng nhanh, hút dinh dưỡng mạnh | Bèo tấm, bèo tai chuột; giữ ở mức vừa phải |
| Cây mép nước | Vùng nông sát bờ | Lọc nước chảy vào, giữ bờ, chỗ chim và chuồn chuồn | Thuỷ trúc, mái dầm, lác, rau ngổ, môn nước |
Sen cần nắng nhiều và lớn rất mạnh, trong hồ nhỏ nên trồng trong chậu hay giỏ đặt chìm để không lan khắp đáy. Súng dễ kiểm soát hơn, nở hoa gần quanh năm ở vùng nóng.
Khi thu hoạch cây thuỷ sinh mọc quá dày và đem bón vườn, dinh dưỡng thực sự được đưa ra khỏi hồ. Đây là cách lọc rẻ nhất: cây hút dinh dưỡng, người vớt cây ra.
Vùng lọc thực vật: máy lọc không cần điện
Một cách làm ngày càng phổ biến ở hồ tự nhiên là dành một góc hồ, hoặc một hồ nhỏ phụ nằm cao hơn, làm vùng lọc thực vật: một lòng sỏi nông trồng dày cây mép nước, nước hồ được dẫn hoặc bơm chậm qua đó rồi chảy về hồ chính. Rễ cây và lớp vi sinh trên sỏi giữ lại cặn, hút dinh dưỡng, nước ra trong hơn.
Kích thước vùng lọc thường bằng một phần đáng kể diện tích hồ chính, tuỳ số cá và lượng nắng. Nếu hồ có thác nhỏ hay suối chảy, vùng lọc đặt ở đầu dòng, nước lọc xong chảy qua thác vừa sạch vừa được đảo ô xy.
Bơm nhỏ chạy liên tục là thứ duy nhất cần điện, và có thể dùng bơm chạy pin mặt trời cho hồ ở xa nhà. Khi trang viên vắng chủ, hệ này vẫn tự chạy, không cần người súc rửa vật liệu lọc như các hộp lọc cơ học.
Ở chỗ nước mưa chảy tràn vào hồ, một dải cỏ hoặc cây mép nước rộng vài mét giữ lại bùn đất và phân bón từ vườn. Không để nước từ vườn rau vừa bón phân, sân chăn nuôi hay chỗ ủ phân chảy thẳng vào hồ cảnh.
Có một kiểu hồ đi xa hơn: hồ bơi tự nhiên, phổ biến ở Đức và Áo từ vài thập niên gần đây, chia làm vùng bơi và vùng lọc thực vật, không dùng hoá chất. Kiểu hồ này đòi hỏi thiết kế bài bản và tỉ lệ vùng lọc lớn; nó cho thấy nước có thể giữ trong đủ để tắm chỉ bằng cây và sỏi, nhưng ở khí hậu nóng quanh năm việc cân bằng khó hơn vùng ôn đới, nên nếu muốn thử, cần người đã từng làm ở vùng nhiệt đới tư vấn.
Cá trong hồ cảnh: ít mà khoẻ
Thả ít hơn mình muốn. Mỗi con cá là một nguồn phân và một miệng ăn đòi thức ăn. Hồ tự nhiên trong vắt thường có rất ít cá so với hồ cá cảnh trong nhà. Bắt đầu với ít cá, quan sát vài tháng rồi mới thêm.
Cho ăn ít, theo dõi phần thừa. Thức ăn thừa chìm đáy là dinh dưỡng trực tiếp cho tảo. Cho ăn lượng cá ăn hết trong vài phút, và có những ngày không cho ăn: cá trong hồ có cây vẫn tìm được côn trùng, rong non.
Cá ăn bọ gậy. Các loài cá nhỏ như cá bảy màu, cá lòng tong, cá sặc được nhiều nhà vườn thả để ăn lăng quăng, giảm muỗi.
Cẩn trọng với cá bới đáy. Cá chép và cá koi lớn đào bới đáy, nhổ cây, làm nước đục. Muốn nuôi koi thì nên làm hồ riêng có lọc cơ học và sinh học, không trộn với hồ cảnh tự nhiên.
Không thả cá lạ ra môi trường. Hồ nối với mương, suối, sông thì không thả loài ngoại lai có khả năng lấn át cá bản địa. Khi muốn bỏ bớt cá, cho người quen nuôi thay vì thả ra kênh rạch.
Lịch chăm hồ cảnh theo mùa
Nhịp chăm sóc dưới đây hợp với hồ tự nhiên cỡ vừa trong trang viên ở vùng có mùa mưa và mùa khô rõ rệt:
- Đầu mùa mưa: khơi thông đường tràn và rãnh dẫn nước vào; kiểm tra dải cỏ lọc; vớt bớt cây trôi nổi để chuẩn bị cho nước mưa pha loãng.
- Giữa mùa mưa: sau mưa lớn quan sát nước đục do đất trôi vào, tìm và chặn chỗ xói; vớt lá rụng mỗi tuần.
- Cuối mùa mưa: tỉa cây mép nước, chia bớt bụi súng, sen đã quá dày; đem phần tỉa đi ủ phân.
- Mùa khô: bù nước bốc hơi bằng nước mưa trữ hoặc nước giếng đã để lắng; tránh bù một lần quá nhiều nước lạnh; giữ lá che ở mức một nửa mặt nước.
- Vài năm một lần: hút hoặc nạo một phần bùn đáy, không vét sạch toàn bộ một lần để giữ lại vi sinh và trứng của các sinh vật có ích.
Không dùng hoá chất diệt tảo trong hồ có cá và cây nếu chưa hiểu rõ: tảo chết hàng loạt tiêu thụ ô xy khi phân huỷ, có thể làm cá chết ngạt chỉ sau một đêm.
Câu hỏi thường gặp
Có cần máy lọc cho hồ cảnh không?
Hồ tự nhiên ít cá, nhiều cây, có bóng che thì thường không cần máy lọc, chỉ cần một bơm nhỏ tạo dòng chảy hoặc chạy qua vùng lọc thực vật. Hồ nuôi koi mật độ cao, hồ nhỏ phơi nắng hoàn toàn thì cần lọc cơ học và sinh học, và cần người chăm đều đặn.
Bao lâu thì hồ mới đào hết xanh nước?
Thường vài tuần đến vài tháng tuỳ lượng cây và nắng. Trồng đủ cây chìm và cây lá nổi ngay từ đầu, chưa thả cá ngay, không thay nước liên tục là cách rút ngắn giai đoạn này. Đợt nước xanh đầu tiên là bình thường, không phải hồ hỏng.
Hồ cảnh có thu hút rắn không?
Hồ có ếch nhái, cá nhỏ có thể thu hút một số loài rắn nước, phần lớn không nguy hiểm, nhưng ở vùng đồi có rắn độc thì cần cẩn trọng. Giữ bờ quanh lối đi phát quang, có đèn lối đi ban đêm, mang giày khi ra hồ buổi tối và dạy trẻ không thò tay vào bụi rậm ven hồ.
Hồ cảnh có cần sâu không?
Hồ tự nhiên nên có vùng nông sát bờ cho cây mép nước và cho chim, ếch lên xuống, và một vùng sâu hơn ở giữa cho cá trú nắng mùa khô. Độ sâu cụ thể tuỳ quy mô và khí hậu. Hồ càng sâu càng phải tính kỹ về bờ và an toàn cho trẻ.
Dùng nước giếng khoan bù cho hồ có được không?
Được, nhưng nước giếng ở một số vùng có nhiều sắt, phèn hoặc khí hoà tan. Nên cho nước giếng chảy qua một bể lắng hoặc để lộ thiên một hai ngày trước khi bù, và bù từng ít một. Nếu nước giếng có mùi trứng thối hay màu vàng đỏ, nên xét nghiệm trước.
Cây cối quanh hồ rụng nhiều lá thì làm thế nào?
Căng lưới mịn trên mặt hồ trong mùa rụng lá là cách hiệu quả cho hồ nhỏ. Hồ lớn thì vớt lá bằng vợt cán dài mỗi tuần. Lá chìm đáy mục ra là nguồn dinh dưỡng nuôi tảo, nên đừng để tích tụ qua nhiều mùa.