Nhà vườn Nhật Bản truyền thống không đặt ngôi nhà giữa khu vườn để ngắm từ xa mà nối hai thứ làm một: hiên gỗ engawa chạy dọc nhà, cửa trượt mở toang, người ngồi trong phòng nhìn ra vườn như nhìn một bức tranh có khung. Kiểu nối này có ở cả biệt thự cung đình như Katsura ở Kyoto lẫn nhà của các gia đình nông dân khá giả ở nông thôn.
Khí hậu Nhật có nhiều điểm gần Việt Nam hơn châu Âu: mưa nhiều, hè nóng ẩm, có mùa mưa dầm, có bão. Vì thế những giải pháp như mái chìa sâu, sàn gỗ nâng cao, cửa trượt thông gió và kho chống cháy rất đáng xem kỹ. Bài này đi từ biệt thự Katsura, qua nhà nông mái tranh và nhà chủ đất nông thôn, tới các kiểu vườn, rồi chọn ra những gì nhà vườn ở Việt Nam mượn được.
Biệt thự Katsura: nhà xếp so le như đàn nhạn
Biệt thự hoàng gia Katsura (Katsura Rikyū) nằm ở phía tây Kyoto, được một dòng thân vương xây dựng và mở rộng trong thế kỷ 17. Quần thể gồm các toà nhà theo lối shoin, nhiều nhà trà nhỏ rải quanh một hồ nước lớn, và một khu vườn đi dạo được thiết kế để mỗi bước chân mở ra một khung cảnh mới.
Đặc điểm dễ nhận nhất của nhà chính là cách các khối nhà xếp so le theo đường chéo, người Nhật ví như đàn nhạn bay. Nhờ xếp so le, phòng nào cũng có hai ba mặt nhìn ra vườn, gió đi vào từ nhiều phía, và không có khối nhà nào chắn cảnh của khối khác. Trước nhà có một sàn tre nhô ra phía hồ để ngắm trăng. Sàn nhà chính được nâng khá cao trên cột, vừa tránh ẩm, vừa phòng nước hồ dâng khi mưa lớn, vừa cho người ngồi trong phòng tầm nhìn bao quát mặt nước.
Thế kỷ 20, nhiều kiến trúc sư hiện đại phương Tây và Nhật Bản tìm đến Katsura và coi nó như một bài học về sự giản dị, về lưới cột đều, về cách nhà và vườn hoà làm một. Với người làm nhà vườn trên đất rộng ở Việt Nam, ý tưởng xếp so le là thứ mượn được ngay: thay vì một khối nhà vuông lớn, chia thành ba bốn khối vừa phải xếp lệch nhau theo đường đồng mức, mỗi khối mở ra một góc vườn riêng, giữa các khối là sân nhỏ và hành lang. Trên đất dốc, cách xếp này còn giảm khối lượng san lấp. Vị trí và móng từng khối cần kỹ sư khảo sát.
Những bộ phận làm nên nhà gỗ Nhật
Engawa, hiên gỗ dưới mái chìa. Dải sàn gỗ hẹp chạy dọc mặt nhà, nằm dưới mái chìa sâu, giữa phòng và vườn. Nó là lối đi, là chỗ ngồi hóng mát, là vùng đệm che nắng và mưa cho phòng bên trong. Hợp khí hậu Việt Nam gần như nguyên vẹn.
Cửa trượt nhiều lớp. Lớp ngoài cùng là cửa gỗ chống bão (amado) kéo ra đóng kín khi mưa gió hoặc ban đêm, ban ngày cất vào hộc bên cạnh. Lớp trong là cửa giấy shoji cho ánh sáng dịu, và vách ngăn fusuma giữa các phòng. Mở hết, cả mặt nhà thông ra vườn.
Sàn nâng cao. Sàn gỗ nâng cách mặt đất để tránh ẩm và cho gió lưu thông dưới gầm. Ở nhà có nền đất (doma) gần cửa vào là khu bếp, khu làm việc, nơi đi giày dép.
Mái lớn, chìa sâu. Mái ngói hoặc tranh dốc, chìa rất xa, che mưa cho tường và hiên, tạo bóng sâu mùa hè. Mặt trời mùa đông thấp vẫn chiếu được vào sàn.
Kích thước theo chiếu tatami. Phòng được tính theo số chiếu, lưới cột đều, nên các phòng ăn khớp nhau, dễ chia, dễ nối. Lưới mô-đun đều cũng là cách làm nhà gỗ tiết kiệm vật liệu.
Nhà nông mái tranh và nhà chủ đất ở nông thôn
Không phải nhà vườn Nhật nào cũng là biệt thự. Làng Shirakawa-go và Gokayama ở miền núi trung tâm, được UNESCO ghi danh, có những nhà nông mái tranh dốc đứng kiểu gassho-zukuri, dáng như hai bàn tay chắp lại. Mái dốc để tuyết dày trượt xuống; tầng áp mái nhiều lớp xưa dùng nuôi tằm, hơi ấm từ bếp lửa dưới nhà bốc lên giúp tằm lớn và khói hun giữ cho tranh, gỗ khỏi mục. Mái tranh được dân làng cùng nhau lợp lại theo chu kỳ nhiều năm.
Ở đồng bằng, nhà của các gia đình nông dân khá giả, gọi chung là gōnō, có quy mô một trang viên nhỏ. Lối vào qua cổng nhà dài (nagaya-mon), một dãy nhà có phòng cho người làm và kho ở hai bên cổng. Qua cổng là sân, nhà chính có nền đất rộng làm bếp và chỗ làm việc, phòng sàn gỗ để ở và tiếp khách, một vườn trước phòng khách. Xung quanh có kho thóc, chuồng, và một hai nhà kho tường đất trát vôi trắng gọi là kura.
Kura đáng một dòng riêng: tường đất dày nhiều lớp, cửa dày, mái kép cách nhau một khoảng, dùng để cất đồ quý, giấy tờ, gạo, đồ cưới. Khi cháy làng, nhà gỗ có thể mất nhưng kura thường đứng vững. Ý tưởng một kho kiên cố, chống cháy, chống ẩm, tách khỏi nhà ở, rất hợp cho khu đất ở vùng đồi Việt Nam có mùa khô dễ cháy cỏ.
Ba kiểu vườn Nhật và chỗ dùng
Vườn Nhật có nhiều trường phái; ba kiểu dưới đây hay gặp nhất và cho ba cách dùng khác nhau trên một khu đất lớn.
| Kiểu vườn | Đặc điểm | Hợp chỗ nào trên khu đất |
|---|---|---|
| Vườn đi dạo quanh hồ | Lối đi vòng quanh hồ, qua cầu, đảo, nhà trà; mỗi điểm dừng một cảnh | Khu đất rộng có trũng tự nhiên, gom nước mưa thành hồ |
| Vườn khô (đá và sỏi cào) | Sỏi trắng cào thành sóng, đá đặt thành cụm, ít cây; ngắm từ hiên | Sân trong nhỏ, chỗ thiếu nước, nơi cần ít công chăm |
| Vườn trà (lối vào nhà trà) | Lối đá bước, đèn đá, chậu đá rửa tay, cây xanh rậm, rêu | Lối đi giữa nhà chính và nhà khách, góc vườn nhỏ râm mát |
| Vườn sân nhỏ trong nhà phố | Khoảnh vài mét vuông giữa các phòng, có đá, cây, đèn | Khe giữa các khối nhà để lấy sáng và gió |
Vườn khô nghe có vẻ ít tốn công, nhưng sỏi trắng ở xứ nhiều lá rụng và mưa lớn phải quét, cào thường xuyên, rêu và cỏ dại mọc nhanh. Vườn đi dạo quanh hồ tốn công hơn nhưng làm nhiệm vụ trữ nước thật.
Mượn cảnh: đưa núi xa vào vườn nhà
Shakkei, mượn cảnh, là kỹ thuật đưa cảnh vật ngoài ranh đất, như một dãy núi, một rặng cây, một ngọn đồi, vào bố cục khu vườn. Người làm vườn dựng một hàng rào cây cắt tỉa ở độ cao vừa đủ che phần nhà cửa lộn xộn ở giữa, để mắt nhìn từ vườn lướt thẳng lên núi xa, tưởng như núi là phần cuối của vườn. Biệt thự Shugakuin ở chân núi phía đông bắc Kyoto, cũng từ thế kỷ 17, là ví dụ nổi tiếng với vườn bậc trên nhìn ra dãy núi và thành phố.
Ở Việt Nam, đất vùng đồi Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, vùng ven núi Khánh Hoà hay Đà Nẵng thường có tầm nhìn ra núi, hồ, thung lũng. Thay vì mở toang mọi phía, có thể chọn một hai hướng cảnh đẹp nhất, đặt phòng khách, hiên chính quay về đó, dùng cây bụi cao vừa phải làm khung che những thứ không muốn thấy như mái nhà hàng xóm, đường điện, công trình đang xây.
Mượn cảnh cũng có nghĩa là chấp nhận rằng cảnh không thuộc về mình. Rặng đồi kia có thể bị san, thung lũng kia có thể mọc nhà. Vì vậy khu vườn nên có giá trị tự thân ở tầng gần và tầng giữa, cảnh xa chỉ là phần thưởng thêm.
Satoyama: nhìn khu đất như một phần của cả làng
Người Nhật có chữ satoyama để chỉ vùng chuyển tiếp giữa làng và núi: ruộng lúa bậc thang, ao làng, kênh tưới, bãi cỏ, rừng tạp được chặt tỉa định kỳ lấy củi, lá ủ phân, măng, nấm. Nhà nông và nhà chủ đất không đứng tách ra mà là một mắt xích trong cả hệ thống ấy. Rừng sau nhà chắn gió mùa đông và giữ nước; ao trước nhà nhận nước từ ruộng; cây trong vườn nhà cho bóng mát và quả.
Trong nửa sau thế kỷ 20, nhiều vùng satoyama bị bỏ hoang khi người trẻ ra thành phố; rừng tạp không còn ai chặt tỉa thì rậm lại, ruộng bậc thang thành bãi cỏ. Gần đây ở Nhật có nhiều chương trình của địa phương và cộng đồng nhằm phục hồi cảnh quan này, vì thấy rằng nó giữ được đất, nước và nhiều loài sinh vật hơn cả rừng nguyên hay đồng ruộng thuần.
Với khu đất lớn ở Việt Nam, góc nhìn satoyama nhắc một điều: ranh giới sổ đỏ không phải ranh giới của dòng nước, của gió hay của đàn chim. Trước khi quy hoạch, nên đi quanh cả xóm để biết nước từ đâu chảy về đất mình và chảy đi đâu, rừng bên cạnh có bị chặt không, hàng xóm dùng con suối thế nào. Một hồ đào trong đất mình có thể làm cạn mạch nước của nhà dưới; một bờ kè có thể đẩy nước lũ sang ruộng người khác. Những việc như vậy nên bàn với chính quyền xã và hàng xóm, có kỹ sư thuỷ lợi tư vấn khi quy mô lớn.
Những gì nhà vườn Việt Nam mượn được từ Nhật
Hiên sâu và cửa mở toàn mặt. Engawa và hệ cửa trượt cho phép nhà mở hoàn toàn khi trời đẹp, đóng kín khi bão. Ở Việt Nam, cửa lùa nhiều cánh bằng gỗ hoặc khung nhôm kính kèm lớp cửa chớp ngoài làm được điều tương tự.
Khối nhà xếp so le theo địa hình. Như Katsura: mỗi khối một góc vườn, gió vào nhiều phía, ít đào đắp trên đất dốc.
Kho kiên cố tách riêng. Như kura: cất giấy tờ, đồ quý, lương thực trong một kho chống cháy, chống ẩm, chống chuột.
Hồ gom nước mưa làm vườn. Vườn đi dạo quanh hồ vừa đẹp vừa trữ nước. Hồ phải có kỹ sư thiết kế bờ, tràn và chống thấm; bờ hồ chỗ trẻ con hay chơi nên thoải và nông.
Ít vật liệu, làm kỹ. Nhà vườn Nhật dùng ít loại vật liệu, nhưng mối nối gỗ, đá lát, mép mái làm rất tinh. Một khu nhà vườn ít chi tiết nhưng làm chuẩn thường bền và dễ sống hơn nhà nhiều trang trí.
Không cần đèn đá, cổng torii. Mượn nguyên lý, không bê biểu tượng. Đèn đá, cổng, cầu cong đỏ đặt vào vườn Việt Nam thường thành đồ trang trí lạc chỗ.
Câu hỏi thường gặp
Engawa khác hiên nhà Việt Nam thế nào?
Engawa thường là dải sàn gỗ cùng cao độ với sàn phòng, nằm giữa lớp cửa trong và lớp cửa ngoài hoặc ngay ngoài mép cửa, như một phần của nhà. Hiên nhà Việt Nam truyền thống thường thấp hơn nền nhà một bậc, lát gạch, có cột hiên. Hai kiểu cùng vai trò che nắng mưa và làm vùng đệm.
Có thể tham quan biệt thự Katsura không?
Có, nhưng việc tham quan được quản lý chặt, thường theo nhóm có hướng dẫn và cần đăng ký trước qua cơ quan quản lý của hoàng gia Nhật. Thủ tục và số lượt có thể thay đổi, nên kiểm từ nguồn chính thức trước khi đi.
Vườn rêu có trồng được ở Việt Nam không?
Rêu cần bóng râm, độ ẩm cao và ít người dẫm lên. Ở vùng cao mát và ẩm như Đà Lạt có thể có vườn rêu tự nhiên dưới tán cây. Ở vùng nóng, rêu dễ chết khô mùa khô. Có thể dùng cây phủ nền chịu bóng của địa phương để có hiệu ứng tương tự.
Nhà gỗ kiểu Nhật có chịu được bão ở Việt Nam không?
Nhà gỗ Nhật được làm cho vùng có bão và động đất, nhờ khung gỗ liên kết tốt và cửa chống bão. Nhưng xây ở Việt Nam phải tính lại theo tải trọng gió, mối mọt, độ ẩm địa phương, và phải có kỹ sư kết cấu. Mái chìa sâu cần neo chắc.
Shakkei có cần đất cao không?
Không nhất thiết. Mượn cảnh chỉ cần một tầm nhìn đáng giá và một cách che phần không đẹp ở giữa. Đất bằng ven sông có thể mượn rặng cây bên kia sông; đất trong thung lũng mượn sườn núi. Đất càng cao thì tầm nhìn càng xa, nhưng gió và sét cũng nhiều hơn.
Vườn Nhật có tốn nhiều công chăm sóc không?
Vườn Nhật cổ điển tốn công: tỉa cây theo dáng, cào sỏi, nhặt lá, giữ rêu. Nhiều vườn ở Nhật có thợ chăm theo mùa. Muốn ít công, nên giữ nguyên lý bố cục và lối đi, dùng cây bản địa ít cần tỉa, hạn chế sỏi trắng và cây cắt dáng.