TrangVien.comTrang Viên
Dinh thự, nhà vườn xưa ở Việt Nam

Nhà cổ Nam Bộ của gia đình điền chủ: nhà trên nhà dưới, chữ đinh, chữ nhị, hàng ba

Nhà cổ của các gia đình điền chủ Nam Bộ được dựng thế nào: nhà trên nhà dưới, kiểu chữ đinh, chữ nhị, hàng ba, gian thờ có bao lam và lối pha Tây cuối thế kỷ 19.

Front view across a brick yard of an old riverside house with clay tile roof, wooden columns and shaded veranda, coconut palms behind, midday heat

Nhà cổ của các gia đình điền chủ Nam Bộ thường gồm "nhà trên" để thờ cúng, tiếp khách và "nhà dưới" để sinh hoạt, nấu ăn, hai nhà đặt vuông góc thành hình chữ đinh hoặc song song thành hình chữ nhị; phía trước là hàng ba (hiên) và sân gạch, mặt nhà nhìn ra sông hoặc kênh. Khung nhà là gỗ quý lắp mộng, nền cao, mái ngói âm dương, bên trong có gian thờ với bao lam chạm khắc.

Phần lớn những ngôi nhà còn lại được dựng từ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20, thời lúa gạo và cây trái miền Tây buôn bán rộng. Nhiều nhà pha thêm chi tiết phương Tây ở mặt tiền nhưng giữ nguyên khung gỗ và gian thờ kiểu Việt. Bài này đọc một ngôi nhà cổ Nam Bộ từ bến sông vào tới nhà dưới, kể như di sản kiến trúc của những gia đình từng làm chủ ruộng vườn lớn.

Một kiểu nhà lớn sinh ra từ sông nước và lúa gạo

Miền Tây Nam Bộ được khai phá dần qua nhiều thế kỷ, và từ cuối thế kỷ 19 hệ thống kênh đào mở rộng làm diện tích lúa tăng nhanh. Những gia đình nắm nhiều ruộng đất, buôn lúa gạo, có vườn cây trái lớn dựng nhà kiên cố, rộng rãi, dùng gỗ tốt chở từ rừng miền Đông hoặc từ nơi khác về.

Vị trí nhà gần như luôn gắn với nước: bờ sông lớn, ngã ba kênh, rạch dẫn vào vườn. Sông là đường đi chính, nên khách khứa, lúa thóc, trái cây và cả thợ dựng nhà đều tới bằng ghe. Các nhà cổ còn đứng ở vùng Đông Hòa Hiệp thuộc Cái Bè (Tiền Giang cũ, nay thuộc Đồng Tháp), ở Bình Thủy (Cần Thơ), ở Sa Đéc (Đồng Tháp), ở Cần Đước (Long An cũ, nay thuộc Tây Ninh) đều nằm sát sông hoặc kênh.

Gọi đây là "nhà điền chủ" để chỉ nguồn gốc của ngôi nhà, không nhằm đánh giá ai. Ngày nay nhiều ngôi nhà vẫn do con cháu các gia đình ấy gìn giữ, một số đã được công nhận di tích, số khác mở cửa đón khách tham quan và giới thiệu nếp sinh hoạt miền sông nước.

Từ bến sông vào nhà: bến, sân, hàng ba

Bến ghe và lối lên. Nhiều nhà có bến riêng, bậc xây hoặc cầu gỗ, để ghe cập vào. Từ bến có lối đi thẳng vào sân, đôi khi qua một cổng hoặc hàng rào bông bụp, dâm bụt. Khách tới bằng ghe nhìn thấy mặt tiền nhà trước tiên, nên mặt nhà ra sông được chăm chút nhất.

Sân gạch rộng. Sân trước lát gạch hoặc nện đất, đủ rộng để phơi lúa, phơi trái cây, dựng rạp khi có giỗ, cưới. Một số nhà có hồ nước, chậu kiểng, cây mai trước sân. Sân cũng là khoảng đệm hắt ánh sáng và gió từ sông vào nhà.

Hàng ba: chiếc hiên của người Nam Bộ. Hàng ba là dãy hiên chạy dọc mặt trước nhà, có mái che, cột hiên, thường đặt bộ ván hoặc ghế để ngồi hóng mát. Khách quen thường được tiếp ở hàng ba trước khi vào nhà trên. Trong cái nóng quanh năm của Nam Bộ, hàng ba là chỗ thoáng nhất trong ngày.

Nền cao hơn mặt sân. Nền nhà trên được đắp cao, xây bó nền bằng gạch hoặc đá, có bậc lên. Nền cao chống ngập khi nước lớn mùa lũ, giữ chân cột khô và làm ngôi nhà trông bề thế hơn từ phía sông.

Vườn và mương bao quanh. Sau và hai bên nhà là vườn lên liếp: đất đào thành mương, đắp thành liếp cao để trồng dừa, cau, xoài, chuối, cây có múi. Mương vườn nối với rạch, nước vào ra theo triều, vừa tưới vừa thoát nước khi mưa lớn, vừa là chỗ thả cá. Khuôn viên vì thế có một mạng nước riêng, và chủ nhà phải giữ cống, bờ mương mỗi năm, nếu không vườn sẽ úng hoặc nhiễm phèn.

Nhà trên, nhà dưới và các kiểu ghép

Đơn vị cơ bản của nhà Nam Bộ là "nhà trên" (nhà chính) và "nhà dưới" (nhà phụ). Cách đặt hai nhà này tạo ra những kiểu nhà mà người ta gọi theo hình chữ Hán.

KiểuCách ghépĐặc điểm khi ở
Nhà chữ đinhNhà dưới đặt vuông góc với nhà trên, nối ở một đầuCó sân trong giữa hai nhà, bếp xa gian thờ, dễ thông gió
Nhà chữ nhịNhà dưới đặt song song phía sau nhà trên, nối bằng máng xối hoặc hành langMặt tiền rộng, hai mái ghép, cần xử lý nước mưa ở chỗ nối
Nhà ba gian hai chái đứng riêngChỉ nhà trên, nhà phụ tách hẳn trong vườnGọn, nhiều nhà thường dân và nhà vườn nhỏ
Nhà nhiều gian, nhiều cộtNhà trên kéo dài nhiều gian, hàng cột dàyQuy mô lớn, ví dụ ngôi nhà được gọi là nhà trăm cột ở Cần Đước

Chỗ nối hai mái trong nhà chữ nhị là chỗ hay dột nhất. Người xưa dùng máng xối bằng gỗ, sau là bằng kim loại, và phải thông máng mỗi mùa mưa. Người làm nhà mới theo kiểu này cần tính độ dốc và đường thoát nước mưa ở chỗ giao mái thật kỹ.

Việc tách nhà dưới có bếp ra khỏi nhà trên có lý do cả về cháy nổ lẫn về sinh hoạt: gian thờ, khách khứa ở nhà trên không bị khói bếp, tiếng ồn làm phiền, còn phụ nữ và người làm có không gian riêng để làm việc.

Bộ khung gỗ và gian thờ

Nhà trên thường là nhà ba gian hai chái hoặc năm gian, khung gỗ quý như căm xe, gõ, sao, lắp mộng và kê chân cột trên đá tảng. Nhiều nhà Nam Bộ dùng kiểu khung mà giới nghiên cứu gọi là xuyên trính, với thanh trính (xà ngang) xuyên qua đầu cột, tạo bộ vì chắc và gọn. Cột thường to, đứng thành nhiều hàng, nên bước vào nhà trên có cảm giác như bước vào một rừng cột gỗ bóng màu.

Gian giữa nhà trên là gian thờ, nơi chủ nhà chăm chút nhiều nhất. Phía trước bàn thờ có bao lam, một khung gỗ chạm thủng hình vòm, đề tài hoa lá, chim muông, cây trái miền Nam. Hai bên có hoành phi, liễn đối, tủ thờ, bộ trường kỷ hoặc bộ ván gỗ nguyên tấm để tiếp khách. Ánh sáng vào gian thờ qua cửa trước và qua khe bao lam, tạo không khí trang nghiêm và mát.

Hai gian bên là nơi tiếp khách, ngủ của chủ nhà; chái và phần sau là buồng, kho. Nhà dưới đơn giản hơn: bếp, nơi ăn uống hằng ngày, chỗ để nông cụ, lu chứa nước mưa. Lu, khạp đứng thành hàng dưới mái nhà dưới là hình ảnh quen của nhà miền Tây trước khi có nước máy. Trật tự này, trang trọng ở trước và làm lụng ở sau, lặp lại trong gần như mọi ngôi nhà cổ miền Tây, từ nhà lớn nhất tới nhà vừa phải.

Những chi tiết chống nóng, chống ẩm ít ai để ý

Nhà cổ Nam Bộ được dựng cho một vùng nóng quanh năm, mưa nhiều nửa năm, nước ngầm nông. Nhiều chi tiết của nó là lời giải cho đúng những điều đó. Mái ngói âm dương lợp hai lớp ngửa úp, giữa các viên có khe hở nhỏ cho hơi nóng thoát lên; mái cao và dốc tạo khoảng không lớn dưới mái làm đệm nhiệt.

Nền lát gạch tàu, loại gạch nung đỏ hút ẩm và thoát ẩm, giữ chân mát vào trưa nắng. Cửa lá sách ở các nhà pha Tây cho gió đi qua mà vẫn che nắng và che tầm nhìn từ ngoài vào. Vách gỗ ở nhà trên thường có những ô thoáng phía trên cao để hơi nóng thoát ra.

Quanh nhà, cây dừa, cây xoài, cây mít được trồng đủ xa để không đổ vào mái khi giông, nhưng đủ gần để che nắng chiều cho nhà dưới. Lu, khạp chứa nước mưa đặt dưới mái nhà dưới, vừa trữ nước sinh hoạt vừa làm mát một góc sân. Những chi tiết nhỏ này cho thấy một ngôi nhà lớn không cần máy móc vẫn có thể dễ chịu, nếu được tính theo đúng khí hậu nơi nó đứng. Người làm nhà vườn mới có thể dùng lại hầu hết chúng mà không cần bắt chước hình thức xưa.

Khi Đông gặp Tây ở mặt tiền

Từ cuối thế kỷ 19, gạch, xi măng, gạch bông, kính và các chi tiết kiến trúc phương Tây du nhập rộng ở Nam Bộ. Nhiều gia đình khá giả xây mặt tiền nhà bằng gạch với vòm cửa, cột trụ đắp nổi, lan can, lát sàn gạch bông nhiều màu, lắp cửa sổ có lá sách. Bên trong, khung gỗ, gian thờ, bao lam vẫn giữ kiểu truyền thống. Kết quả là những ngôi nhà mặt Tây lưng Việt mà người miền Tây quen gọi đơn giản là nhà cổ.

Nhà cổ Bình Thủy ở Cần Thơ và một số nhà ở Cái Bè là ví dụ hay được nhắc tới cho lối pha trộn này. Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc có bài riêng trên trang vì câu chuyện gắn với một cuốn tiểu thuyết Pháp.

Từ góc nhìn người làm nhà vườn hôm nay, điều đáng học không phải là bắt chước vòm cửa hay gạch bông, mà là cách người xưa ghép hai thứ khác nhau một cách tự tin: phần nào cần bền, sạch, chống ẩm (nền, mặt tiền, tường bao) thì dùng vật liệu mới; phần nào cần ấm, cần chạm, cần gắn với nếp thờ cúng thì giữ gỗ.

Bài học cho nhà vườn lớn ven sông hôm nay

Người dựng trang viên ở vùng sông nước Nam Bộ ngày nay gặp những điều kiện mà nhà cổ đã phải đối mặt: nước lên xuống theo triều, mùa nước nổi, đất phù sa yếu, nắng nóng quanh năm. Một số lời giải xưa vẫn dùng tốt: nền nhà cao hơn mức nước lớn nhất mà người địa phương nhớ được, hàng ba sâu che nắng, nhà dưới tách khỏi nhà trên, mương vườn dẫn nước theo triều.

Một số việc thì phải làm khác người xưa. Bờ sông, bờ kênh nhiều nơi đang sạt lở; làm kè, bến, nền nhà sát sông cần kỹ sư khảo sát địa chất và tính toán, không đổ đất đắp nền theo kinh nghiệm. Xây dựng sát mép sông còn liên quan tới hành lang bảo vệ nguồn nước và quy hoạch, nên phải hỏi UBND cấp xã và cơ quan chuyên môn trước khi làm.

Nhà có trẻ nhỏ ở cạnh sông, kênh, mương vườn cần hàng rào ngăn trẻ ra mép nước, cửa có chốt cao, và dạy trẻ biết bơi sớm khi đủ tuổi. Nhiều tai nạn đuối nước ở vùng sông nước xảy ra ngay trong vườn nhà, khi người lớn chỉ rời mắt vài phút.

Câu hỏi thường gặp

Nhà trên và nhà dưới khác nhau thế nào?

Nhà trên là nhà chính, đặt gian thờ tổ tiên, tiếp khách, là nơi trang trọng nhất, khung gỗ tốt nhất. Nhà dưới là nhà phụ phía sau hoặc bên hông, dành cho bếp, ăn uống hằng ngày, chứa đồ và chỗ ở của người làm. Hai nhà có thể nối nhau hoặc tách riêng tuỳ kiểu.

Hàng ba có phải là hiên nhà không?

Đúng, hàng ba là cách người Nam Bộ gọi dãy hiên có mái phía trước nhà trên. Tên gọi được giải thích là do hàng cột thứ ba tính từ trong ra, dù cách giải thích này còn khác nhau. Hàng ba là chỗ ngồi hóng mát, tiếp khách quen và làm việc nhẹ.

Nhà cổ Nam Bộ thường dùng gỗ gì?

Thường dùng các loại gỗ cứng, chịu mối như căm xe, gõ, sao cho cột, kèo, trính; gỗ nhẹ hơn cho vách, cửa. Gỗ được chở từ các vùng rừng miền Đông Nam Bộ hoặc nơi khác về bằng đường sông. Ngày nay gỗ quý bị kiểm soát chặt, nên việc sửa chữa thường phải dùng gỗ thay thế hợp pháp.

Có thể vào xem nhà cổ ở Cái Bè hay Bình Thủy không?

Nhiều nhà cổ ở hai nơi này mở cửa đón khách tham quan, có nhà kết hợp lưu trú hoặc phục vụ bữa ăn. Một số vẫn là nhà ở của gia đình nên giờ đón khách có hạn. Nên hỏi trước và giữ ứng xử như khi vào nhà người khác.

Muốn làm nhà chữ đinh cho nhà vườn mới thì cần lưu ý gì?

Bố trí nhà trên quay ra hướng có lối vào và gió mát, nhà dưới đặt cuối gió để khói bếp không thổi vào nhà trên. Sân trong giữa hai nhà nên có chỗ thoát nước tốt. Kết cấu và nền móng nhờ kỹ sư tính, nhất là ở vùng đất yếu ven sông.

Vì sao nhiều nhà cổ có mặt tiền kiểu Pháp nhưng bên trong là gỗ?

Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, vật liệu và kiểu trang trí phương Tây phổ biến ở Nam Bộ, gia đình khá giả dùng chúng cho mặt tiền để bền và hợp thời. Nhưng nếp thờ cúng, tiếp khách vẫn theo truyền thống, nên bên trong giữ khung gỗ, gian thờ và bao lam.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.