Làm trang viên trên khu đất bằng ven sông bắt đầu từ một con số: mực nước cao nhất từng lên tới khu đất. Nhà, kho, bể tự hoại, tủ điện phải nằm cao hơn mức đó một khoảng dự phòng; nhà lùi xa bờ sông, giữ một hành lang cây và bãi cỏ giữa nhà với nước. Phần còn lại của quy hoạch xoay quanh việc sống cùng nước: đào mương lấy đất tôn nền, để nước lũ có chỗ đi, và chọn cây chịu được ngập.
Khu đất ven sông ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng hay các con sông miền Trung có vẻ dễ làm vì bằng phẳng, nhưng mỗi vùng có kiểu nước khác nhau. Bài này đi qua cách đọc nước, tôn nền, xử lý bờ, bố trí công trình và những điều cần hỏi chính quyền địa phương.
Ba kiểu nước ven sông ở Việt Nam
Ở đồng bằng sông Cửu Long, nước lên chậm và rút chậm theo mùa nước nổi, thường từ khoảng tháng tám tới tháng mười một, kèm thuỷ triều lên xuống mỗi ngày. Người dân gọi đó là sống chung với lũ: nhà vườn xưa dựng trên nền cao, vườn chịu ngập vài tuần, mương vườn nối ra rạch cho nước ra vào. Ở những vùng gần biển, cuối mùa khô còn có nước mặn lấn vào sông, ảnh hưởng nước tưới và cây trồng.
Ở dải miền Trung, sông ngắn và dốc, lũ lên nhanh và rút nhanh, có khi chỉ trong vài ngày nhưng dòng chảy mạnh, kéo theo cây cối, đất đá. Khu đất ven sông ở đây cần quan tâm tới sức nước xô hơn là thời gian ngập.
Ở đồng bằng sông Hồng, nhiều sông lớn có hệ thống đê; khu đất nằm ngoài đê (bãi sông) chịu ngập theo mùa, còn khu trong đê thì lo úng nước mưa. Hành lang đê có quy định riêng về công trình. Gia đình có đất ở bãi sông cần hỏi rất kỹ chính quyền địa phương trước khi tính tới bất kỳ công trình nào.
Xác định mực nước cao nhất: hỏi người, nhìn dấu vết
Số liệu mực nước của trạm thuỷ văn gần nhất là tham khảo tốt, nhưng mực nước trên một khu đất cụ thể còn phụ thuộc vào kênh rạch, đê bao, đường sá xung quanh. Cách làm tại chỗ:
- Hỏi những người lớn tuổi nhất trong xóm: năm nào nước lên cao nhất, lên tới đâu, ngập bao lâu.
- Tìm dấu nước cũ trên thân cây, cột nhà, tường chùa, đình, trường học trong vùng.
- Đánh dấu các mức đó lên cọc cố định trong khu đất, đo chênh cao so với mặt đất ở chỗ định đặt nhà.
- Hỏi UBND cấp xã về các công trình đê bao, cống, đường mới làm có thể đổi đường nước trong vùng.
- Đưa con số cho kỹ sư, cộng thêm phần dự phòng theo khuyến cáo của họ để chọn cao độ nền nhà.
Mực nước tham chiếu nên lấy theo trận lớn nhất mà người trong vùng nhớ, không theo năm bình thường. Thời tiết những năm gần đây biến động mạnh, những trận lũ "trăm năm một lần" theo cách nói dân gian không còn hiếm như tên gọi.
Tôn nền và đào mương: một việc, hai kết quả
Lấy đất tại chỗ. Cách cổ điển ở miền Tây là đào mương, ao trong vườn và dùng chính đất đó tôn nền nhà và các liếp vườn. Không phải chở đất từ nơi khác, và có luôn hệ mương trữ nước, thoát nước, nuôi cá.
Nền nhà nằm trên gò cao. Nhà, sân, kho, bể nước sạch, tủ điện, bể tự hoại cùng nằm trên một gò đất tôn cao, nối với cổng bằng một con đường cũng đắp cao, để mùa nước vẫn ra vào được.
Đất đắp phải được đầm và để lún. Đất mới đắp lún dần trong nhiều tháng. Kỹ sư có thể khuyên đắp trước, để qua một mùa mưa, đầm kỹ từng lớp, hoặc dùng móng cọc xuống tới lớp đất tốt bên dưới, nhất là với đất bùn ven sông.
Vườn có thể thấp hơn nhà. Không cần tôn cả khu đất. Vườn cây chịu ngập ngắn, bãi cỏ, sân chơi có thể thấp hơn, để nước lũ có chỗ đi. Tôn hết cả khu chỉ đẩy nước sang nhà láng giềng.
Nhà sàn và tầng trệt chịu ngập. Một lựa chọn khác là nhà sàn trên cột, hoặc tầng trệt làm hiên, kho đồ chịu nước, phòng ở và thiết bị điện đặt ở tầng trên. Đây là cách nhiều vùng ngập trên thế giới đã chọn từ lâu.
Bờ sông: lùi lại, đừng lấn ra
Bờ sông là đất sống. Nó được bồi ở chỗ này, bị xói ở chỗ khác, đổi theo dòng chảy, theo tàu thuyền qua lại, theo việc khai thác cát ở thượng nguồn. Đồng bằng sông Cửu Long những năm gần đây có nhiều đoạn sạt lở bờ sông nghiêm trọng, một số nơi nhà cửa sát mép nước bị cuốn trôi chỉ trong một đêm.
Nguyên tắc an toàn là lùi nhà và mọi công trình nặng xa mép bờ. Khoảng lùi cụ thể phụ thuộc vào loại đất, độ cao bờ, dòng chảy, và quy định về hành lang bảo vệ nguồn nước theo pháp luật về tài nguyên nước. UBND cấp xã là nơi đầu tiên để hỏi đoạn bờ sông cạnh khu đất có nằm trong vùng cảnh báo sạt lở không.
Giữa nhà và bờ nên là một hành lang cây và bãi cỏ: cây có bộ rễ giữ đất ven nước như bần, dừa nước ở vùng nước lợ, tre ở nhiều vùng nước ngọt, cùng cỏ phủ kín đất. Không đổ đất lấn ra lòng sông, không tự ý xây kè bê tông. Kè bờ là công trình kỹ thuật có ảnh hưởng tới cả đoạn sông và bờ của láng giềng; nó cần kỹ sư thuỷ lợi và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Bố trí công trình trên khu đất ven sông
Bảng dưới gợi ý thứ tự cao thấp và khoảng cách tới bờ cho các công trình thường có. Đây là nguyên lý sắp xếp, không phải số đo; cao độ cụ thể do kỹ sư tính theo mực nước tham chiếu của khu đất.
| Công trình | Cao độ | Vị trí so với bờ | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Nhà chính, phòng ngủ | Cao nhất | Xa bờ nhất | Trên gò tôn hoặc nhà sàn |
| Tủ điện, máy bơm, bể nước sạch | Cao bằng hoặc hơn sàn nhà | Gần nhà | Không bao giờ đặt ở chỗ ngập |
| Bể tự hoại, xử lý nước thải | Trên mực lũ | Xa bờ, xa giếng | Tránh nước lũ làm tràn ra sông |
| Kho phân bón, hoá chất, nhiên liệu | Trên mực lũ | Xa bờ | Không để chất độc bị cuốn ra nước |
| Vườn cây chịu ngập, bãi cỏ | Thấp hơn nhà | Giữa nhà và bờ | Chỗ cho nước lũ đi qua |
| Bến nhỏ, chòi ngắm sông | Theo bờ | Sát bờ | Kết cấu nhẹ, hỏi phép trước khi làm |
Điểm hay bị bỏ qua là hoá chất và nước thải. Một trận lũ có thể mang phân bón, thuốc trừ sâu, dầu máy, nước bể tự hoại từ khu đất ra sông, ảnh hưởng tới cả xóm dùng nước phía dưới. Đặt chúng cao và xa bờ là trách nhiệm với láng giềng.
Cây, mương và sinh hoạt thường ngày bên sông
Vườn ven sông miền Tây xưa thường là vườn liếp: các liếp đất cao trồng cây xen với mương nước. Mương dẫn nước tưới, thoát nước mưa, trữ cá, và là đường cho xuồng nhỏ đi vào vườn. Một trang viên hiện đại có thể học lại cách làm đó cho vườn cây ăn trái, thay vì lấp hết mương làm sân cỏ phẳng.
Chọn cây cho từng độ cao: cây chịu ngập tốt ở vùng thấp gần bờ, cây ăn trái có giá trị trên liếp cao, cây bóng mát lớn quanh gò nhà. Hỏi người làm vườn lâu năm trong vùng cây nào đã sống qua mấy mùa lũ lớn, đó là danh sách đáng tin nhất.
Sinh hoạt bên sông cũng cần an toàn. Trẻ nhỏ và nước sâu là mối lo lớn nhất của mọi khu đất ven sông: cần rào ngăn giữa sân chơi và bờ, cửa có chốt cao, áo phao treo sẵn ở bến, và luật nhà rõ ràng rằng trẻ không ra bến một mình. Muỗi cũng nhiều hơn; mương nước chảy, có cá, ít muỗi hơn vũng nước đọng, nên giữ cho mương thông, không để đọng.
Những lỗi hay gặp khi làm nhà vườn ven sông
Các lỗi dưới đây gặp lặp lại ở nhiều khu đất ven sông, ven kênh rạch, cả ở đồng bằng sông Cửu Long lẫn ven các sông miền Trung. Phần lớn xuất phát từ việc nhìn khu đất vào mùa khô và nghĩ nó luôn như thế.
- Đặt nhà sát mép bờ để có cảnh đẹp nhất, không hỏi lịch sử sạt lở của đoạn sông.
- Lấp hết mương, ao cũ để có sân cỏ phẳng, rồi mùa mưa nước không còn chỗ thoát, ngập cả vườn.
- Tôn nền cả khu đất cao đều, đẩy nước lũ sang nhà láng giềng, gây mâu thuẫn trong xóm.
- Đặt tủ điện, máy bơm, máy phát ở tầng trệt hay dưới gầm nhà, hỏng hết sau một trận nước lên.
- Xây bể tự hoại thấp gần bờ, nước lũ làm tràn ra sông và giếng.
- Chặt cây ven bờ để mở tầm nhìn, bờ mất rễ giữ, sạt dần sau vài mùa.
- Đổ đất, kè tạm lấn ra lòng sông để rộng vườn, vừa trái quy định vừa làm dòng chảy xói mạnh hơn ở bờ láng giềng.
Điểm chung là coi nước như kẻ thù cần chặn, trong khi ở vùng ven sông, nước là một phần của khu đất. Quy hoạch tốt dành chỗ cho nước đi, đặt thứ quý ở chỗ cao, và giữ bờ bằng cây.
Những điều cần hỏi trước khi mua hoặc làm
Trước khi quyết định làm trang viên trên khu đất ven sông, có một danh sách câu hỏi nên mang đến UBND cấp xã và hỏi láng giềng. Đoạn bờ này có trong vùng cảnh báo sạt lở không. Khu đất có phần nào thuộc hành lang bảo vệ nguồn nước, hành lang đê, hay đất bãi bồi chưa được cấp giấy. Phần nào trên giấy chứng nhận là đất ở, phần nào là đất nông nghiệp hay đất có mặt nước.
Hỏi thêm về hạ tầng: đường vào có ngập vào mùa nước không, điện có bị cắt khi lũ không, xe cứu thương vào được tới đâu. Một khu đất đẹp nhưng mỗi năm bị cô lập vài tuần là điều gia đình cần biết trước, nhất là khi có người già.
Ví dụ giả định: một gia đình ở Cần Thơ có khu vườn cũ của ông bà ven một con rạch lớn. Trước khi xây lại nhà, họ hỏi xã và biết đoạn bờ phía hạ lưu từng sạt. Họ lùi vị trí nhà thêm vào trong, giữ hàng dừa và bần ven bờ, đào lại hệ mương cũ đã bị lấp, dùng đất đó tôn nền. Bến nhỏ ra rạch được làm bằng kết cấu nhẹ sau khi đã hỏi phép. Những quyết định ấy không làm vườn kém đẹp đi, mà giúp cả khu đất đứng vững qua những mùa nước lớn.
Câu hỏi thường gặp
Có nên xây kè bê tông dọc bờ sông trong khu đất?
Không tự ý làm. Kè bờ sông ảnh hưởng tới dòng chảy và bờ của các khu đất lân cận, cần kỹ sư thuỷ lợi thiết kế và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Trong nhiều trường hợp, lùi công trình và giữ hành lang cây ven bờ là giải pháp an toàn, ít rủi ro hơn.
Tôn nền cao bao nhiêu là đủ?
Phụ thuộc vào mực nước cao nhất từng ghi nhận ở khu đất cộng phần dự phòng kỹ sư khuyến nghị, và vào loại đất nền. Không có con số chung. Cần hỏi người già trong vùng, xem dấu nước cũ, tham khảo số liệu thuỷ văn, rồi để kỹ sư tính.
Đất bãi bồi ven sông có xây nhà được không?
Đất bãi bồi thường có tình trạng pháp lý phức tạp và nằm trong vùng chịu ngập, sạt. Trước hết cần biết nó đã được cấp giấy chứng nhận chưa, là loại đất gì. Hỏi UBND cấp xã và cơ quan đất đai cấp tỉnh; không xây dựng khi chưa rõ loại đất và quy hoạch.
Nhà ven sông nên làm nhà sàn hay nhà nền cao?
Cả hai đều dùng được. Nhà nền cao trên gò đất ổn định, quen thuộc ở miền Tây; nhà sàn để nước lũ chảy dưới sàn, ít phải đắp đất. Lựa chọn tuỳ mức ngập, tốc độ dòng chảy, nền đất và thói quen gia đình. Kỹ sư sẽ tư vấn kết cấu móng phù hợp.
Làm sao giữ trẻ nhỏ an toàn ở khu đất ven sông và có mương?
Rào kín ngăn giữa khu sinh hoạt, sân chơi với bờ sông và mương sâu; cửa rào có chốt cao ngoài tầm tay trẻ. Có người lớn trông khi trẻ chơi gần nước, áo phao sẵn ở bến, và dạy trẻ biết bơi sớm. Không để trẻ ra bến hay mương một mình, kể cả mùa nước cạn.
Mùa nước nổi có ảnh hưởng gì đến cây trong trang viên?
Cây không chịu ngập có thể chết nếu nước đọng quanh gốc lâu. Cây chịu ngập, liếp cao cho cây ăn trái và hệ mương thoát nước tốt giúp vườn vượt qua mùa nước. Nước lũ cũng mang phù sa bồi cho đất, nên vườn miền Tây xưa vẫn đón nước theo mùa thay vì chặn hết.