Phong cách Đông Dương là lối kiến trúc ra đời ở Việt Nam những năm 1920–1930, khi các kiến trúc sư người Pháp và người Việt kết hợp mặt bằng, kỹ thuật xây gạch – bê tông phương Tây với mái ngói nhiều tầng, hiên sâu và tỷ lệ của kiến trúc Á Đông để hợp với khí hậu nóng ẩm. Dùng cho nhà chính trang viên, phong cách này cho một ngôi nhà bền, mát, trang trọng mà vẫn gần gũi.
Những yếu tố nhận diện rõ nhất gồm mái ngói chồng hai cấp có khe thông gió, hiên hoặc hành lang chạy quanh nhà, cửa chớp lá sách, tường vôi màu vàng đất hoặc trắng ngà, sàn gạch bông xi măng và các ô thoáng trang trí. Phần dưới giải thích từng yếu tố có tác dụng gì với khí hậu, cách chọn lọc khi làm nhà mới, và những chỗ khiến nhà "Đông Dương" thành bản sao kiểu cách.
Kiến trúc Đông Dương từ đâu ra
Những thập kỷ đầu thế kỷ 20, các công sở và biệt thự ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế chủ yếu mang dáng kiến trúc Pháp: mái dốc, tường dày, cửa sổ cao. Đến những năm 1920, một số kiến trúc sư bắt đầu tìm cách đưa yếu tố bản địa vào, vừa để công trình hợp khí hậu, vừa để có diện mạo riêng. Ernest Hébrard, kiến trúc sư phụ trách quy hoạch đô thị Đông Dương thời đó, là cái tên gắn với hướng đi này; tòa nhà nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội là ví dụ hay được nhắc khi nói về phong cách Đông Dương.
Điều đáng học không nằm ở chi tiết trang trí mà ở cách nghĩ: lấy mái lớn nhiều tầng của đình chùa, nhà truyền thống để che nắng mưa và thoát nhiệt, lấy hiên và hành lang để đệm giữa trong và ngoài, rồi dựng chúng bằng kỹ thuật gạch, bê tông bền hơn gỗ. Kết quả là những công trình đã đứng gần trăm năm trong khí hậu nóng ẩm mà vẫn dùng tốt.
Ở nhà ở, tinh thần này lan ra các biệt thự, nhà vườn của những gia đình khá giả giai đoạn sau, rồi đến nhiều nhà vườn Nam Bộ có hiên cột tròn, cửa chớp xanh, gạch bông nhiều màu. Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc (nay thuộc Đồng Tháp) là một ví dụ khác về sự pha trộn: khung gỗ và mái ngói phương Đông với mặt tiền, trang trí mang nét phương Tây.
Các yếu tố gốc và tác dụng của chúng
Mái chồng hai cấp có khe gió. Mái trên và mái dưới tách nhau một khoảng, để không khí nóng tích dưới mái thoát ra qua khe. Đây là cách làm mát thụ động rất hiệu quả, đồng thời tạo dáng mái nhiều lớp đặc trưng.
Hiên và hành lang bao quanh. Hành lang có mái che hai, ba mặt nhà giữ tường không bị nắng chiếu trực tiếp và cho phép mở cửa cả khi mưa. Hiên thường có hàng cột hoặc vòm thấp.
Cửa chớp lá sách. Lá chớp nghiêng cho gió và ánh sáng tán xạ vào nhưng chặn nắng và mưa tạt, giữ riêng tư mà phòng vẫn thoáng. Thường đi cặp với lớp cửa kính phía trong.
Trần cao và ô thoáng trên cửa. Trần cao giúp khí nóng bốc lên khỏi vùng người ngồi; ô thoáng phía trên cửa cho khí ấy thoát sang phòng bên hoặc ra hành lang.
Tường vôi màu sáng, đế tường sẫm. Màu vàng đất, trắng ngà phản xạ nắng; phần chân tường sẫm hoặc ốp đá che vết bẩn do mưa bắn và ẩm từ đất.
Sàn gạch bông xi măng. Gạch bông mát chân, bền, hoa văn nhiều màu tạo thảm trang trí ngay trên sàn. Gạch bông thật làm thủ công bằng xi măng màu ép, khác gạch men in hoa.
Áp dụng cho nhà chính trang viên hôm nay
Không nên coi phong cách Đông Dương là danh sách chi tiết phải có đủ. Một nhà chính trang viên có thể lấy ba điều cốt lõi là mái ngói nhiều lớp, hành lang bao quanh và cửa chớp, rồi để phần còn lại giản dị. Mặt bằng bên trong hoàn toàn có thể là mặt bằng mở của nhà hiện đại: gian sinh hoạt chung nối bếp và bàn ăn, phòng ngủ có phòng tắm riêng.
Với khu đất rộng, dạng nhà một tầng trải dài có hành lang ở mặt trước và mặt sau rất hợp: mỗi phòng đều có cửa mở ra hiên, gió xuyên từ trước ra sau. Khi nhà có hai tầng, tầng trên nên lùi vào so với tầng dưới để mái tầng dưới thành mái hiên, đúng nhịp mái chồng mà không phải làm mái giả.
Màu sắc nên lấy từ đất và cây của vùng. Vàng đất hợp với đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung; trắng ngà, xanh rêu nhạt hợp với vườn Nam Bộ nhiều bóng cây; cửa chớp xanh lá đậm hay nâu gỗ đều được, quan trọng là cả nhà dùng ít màu và lặp lại nhất quán ở cửa, lan can, khung cửa sổ.
Cây trồng quanh nhà kiểu Đông Dương thường là hàng cây bóng mát lớn dọc lối vào, bồn hoa thấp sát hiên và một khoảng cỏ hoặc sân gạch phía trước. Nếu khu đất có cây cổ thụ, đặt hiên nhìn về phía cây thay vì chặt cây để lấy mặt tiền trống.
Nhà khách, nhà phụ và kho trong cùng khu đất không cần lặp lại toàn bộ ngôn ngữ của nhà chính. Chỉ cần dùng chung loại ngói, chung màu vôi và cùng kiểu cửa chớp nhưng đơn giản hơn, cả quần thể đã đọc thành một gia đình kiến trúc. Nhà chính nhờ vậy vẫn nổi bật là ngôi nhà quan trọng nhất, còn các khối phụ không tốn công trang trí và dễ sửa chữa.
Chọn lọc: giữ gì, bỏ gì khi làm nhà mới
Các yếu tố Đông Dương có giá trị khí hậu rõ thì nên giữ; những chi tiết thuần trang trí cần cân nhắc vì dễ làm nhà nặng nề và tốn công bảo trì.
| Yếu tố | Nên giữ? | Lý do |
|---|---|---|
| Mái ngói hai cấp có khe gió | Giữ | Làm mát dưới mái, chống dột tốt, tạo dáng chính |
| Hành lang có mái quanh nhà | Giữ, ít nhất ở hướng nắng | Che tường, che cửa, thêm chỗ sinh hoạt |
| Cửa chớp lá sách | Giữ | Thông gió khi đóng cửa, chống nắng, riêng tư |
| Ô thoáng trên cửa | Giữ | Thoát khí nóng giữa các phòng |
| Vòm cuốn ở hiên | Tuỳ | Đẹp nhưng làm hiên tối hơn cột thẳng; dùng ít |
| Phù điêu, đắp nổi đầu cột | Thường bỏ | Tốn công, bám rêu, khó sửa |
| Đầu đao, chi tiết mái cong | Giản lược | Dễ thành chép đình chùa, lệch với nhà ở |
Một cách kiểm tra đơn giản: với mỗi chi tiết, hỏi xem nó giúp nhà mát hơn, khô hơn, bền hơn hay chỉ để trông giống. Chi tiết chỉ để trông giống thì giữ ít, đặt đúng chỗ, như một khung cửa chính hay một mảng gạch bông ở gian giữa.
Nội thất và đồ gỗ bên trong
Bên trong một nhà chính kiểu Đông Dương, phần làm nên không khí không phải là đồ cổ mà là tỷ lệ: trần cao, cửa cao gần chạm trần, tường sáng màu và sàn có hoa văn. Đồ gỗ nên thấp và thoáng chân, như ghế bành tay gỗ mặt mây, bàn trà chân cao, tủ thấp có cửa lưới hoặc cửa kính. Đồ thoáng chân để gió lùa dưới gầm, dễ lau sàn và đỡ ẩm mốc mặt sau.
Mây, tre, cói là vật liệu hợp với kiểu nhà này vì nhẹ, thoáng và mát khi ngồi. Chúng cần chỗ khô ráo, tránh mưa tạt trực tiếp ở hiên; đồ ngoài hiên nên là gỗ đặc hoặc kim loại sơn. Rèm vải mỏng màu sáng thay cho rèm dày tối màu, vì cửa chớp đã làm phần chắn nắng, rèm chỉ cần lọc ánh sáng.
Quạt trần cánh lớn quay chậm là chi tiết rất hợp với trần cao, vừa làm mát vừa giữ không khí luôn chuyển động, giảm mốc ở góc phòng. Đèn treo thả thấp, ánh vàng, đặt theo bàn ăn và bàn trà, giữ trần cao không bị loá. Phòng ngủ nên có lớp cửa kính phía trong cửa chớp để đóng kín khi bật máy lạnh hoặc khi gió mùa đông bắc tràn về ở miền Bắc.
Gian sinh hoạt chung có thể đặt một mảng gạch bông hoa văn lớn như tấm thảm dưới bộ bàn ghế, xung quanh là gạch trơn cùng tông. Cách này giữ được tinh thần trang trí mà không làm cả nhà rối mắt.
Những chỗ khiến nhà Đông Dương thành bản sao nặng nề
Dùng mái giả. Mái ngói dán lên mái bê tông phẳng, không có khe gió, không có độ dốc thật, chỉ còn dáng mà mất hết tác dụng. Nước mưa chảy chậm, rêu bám nhanh, mái nóng.
Cửa chớp bằng nhựa hoặc lá cố định. Lá chớp không xoay được, làm bằng vật liệu giả gỗ mỏng, nhìn gần rất lộ và hỏng nhanh dưới nắng. Lá chớp gỗ hoặc kim loại sơn tĩnh điện bền hơn.
Gạch men in hoa thay gạch bông. Gạch men in họa tiết trơn, bóng, trơn trượt khi ướt, dùng ở hiên dễ gây ngã cho người già. Gạch bông xi măng có bề mặt mờ, mát và bền hơn.
Nhồi quá nhiều màu và hoạ tiết. Gạch bông năm màu ở mọi phòng, cửa chớp ba màu, tường hai màu làm mắt mệt. Gạch bông nên dùng thành thảm ở một vài không gian, phần còn lại dùng gạch trơn cùng tông.
Bỏ hành lang để lấy diện tích phòng. Hành lang chính là thứ làm nên khí hậu dễ chịu của nhà Đông Dương. Bỏ đi, tường chịu nắng trực tiếp, cửa chớp bị mưa tạt, nhà nóng và ẩm như mọi ngôi nhà hộp khác.
Bảo trì một ngôi nhà kiểu Đông Dương
Tường vôi màu cần quét lại theo chu kỳ, thường vài năm một lần tuỳ độ mưa nắng; vôi và sơn khoáng thoát ẩm tốt hơn sơn nhựa trên tường gạch dày. Chân tường là chỗ ẩm nhất, nên có lớp chống thấm ngược và một dải sỏi thoát nước sát chân tường thay vì bồn hoa tưới nhiều.
Cửa chớp gỗ cần sơn lại mặt ngoài sau vài mùa nắng; bản lề và chốt nên là loại không gỉ. Mỗi mùa mưa nên kiểm tra máng xối và khe giữa hai cấp mái, nơi lá cây và tổ chim hay làm tắc dòng nước.
Gạch bông lâu ngày mờ màu có thể đánh lại bề mặt và phủ lớp bảo vệ gốc nước. Khi phải thay vài viên vỡ, giữ lại một ít gạch dự phòng ngay từ lúc lát nhà mới, vì mẫu gạch thủ công khó tìm lại đúng màu sau nhiều năm.
Câu hỏi thường gặp
Phong cách Đông Dương có giống phong cách thuộc địa Pháp không?
Không hẳn. Kiến trúc thời Pháp ở Việt Nam có nhiều lớp: lớp đầu chủ yếu chép kiểu Pháp; phong cách Đông Dương là lớp sau, có chủ đích kết hợp yếu tố Á Đông như mái chồng, hiên sâu, tỷ lệ thấp và rộng. Nhà ở ngày nay gọi là Đông Dương thường lấy cảm hứng từ lớp sau này.
Nhà kiểu Đông Dương có hợp với vùng đồi lạnh không?
Hợp với điều chỉnh: thu hẹp hành lang ở hướng gió lạnh, dùng cửa kính phía trong cửa chớp, có thể thêm lò sưởi. Mái ngói nhiều lớp vẫn có lợi vì vùng đồi mưa nhiều. Với khí hậu kiểu Đà Lạt, nhà đồng quê mái dốc thường hợp hơn.
Gạch bông xi măng có trơn khi lát ở hiên không?
Gạch bông thật có bề mặt mờ nên đỡ trơn hơn gạch men bóng, nhưng khi ướt và có rêu vẫn có thể trơn. Ở hiên hướng mưa, nên chọn gạch có bề mặt nhám hơn, giữ hiên đủ sâu để ít bị ướt và vệ sinh rêu định kỳ.
Có nên dùng cửa chớp kim loại thay gỗ?
Cửa chớp nhôm hoặc thép sơn tĩnh điện bền, ít cong vênh và không mối, hợp với vùng ẩm nhiều mưa. Nhược điểm là nóng hơn khi nắng chiếu trực tiếp và cảm giác ít ấm hơn gỗ. Nhiều nhà dùng gỗ cho mặt tiền và cửa chính, kim loại cho các mặt phụ.
Màu vàng đất của nhà Đông Dương lấy từ đâu?
Màu vàng xưa lấy từ vôi pha bột màu khoáng, cho sắc vàng ấm, hơi loang theo thời gian. Ngày nay có thể dùng sơn khoáng hoặc vôi màu để giữ cảm giác ấy. Sơn nhựa vàng đều màu thường trông phẳng và bong khi tường ẩm.