Vật liệu bản địa là vật liệu được khai thác, sản xuất và dùng lâu đời ở chính vùng đặt nhà: gạch nung và ngói đất ở đồng bằng, đá ong ở xứ Đoài, đá bazan và đá chẻ ở cao nguyên, gỗ và tre ở vùng đồi, đất nện ở vùng núi phía Bắc. Dùng chúng cho nhà chính trang viên giúp nhà hợp với khí hậu, hoà vào cảnh quan, thợ quanh vùng biết làm và biết sửa trong nhiều chục năm.
Bản địa không có nghĩa là thô hay rẻ. Nó có nghĩa là vật liệu đã được thử bởi chính mưa, nắng, độ ẩm của vùng qua nhiều thế hệ nhà. Phần dưới đi qua từng nhóm vật liệu, đặc tính, chỗ dùng hợp, cách kết hợp với vật liệu hiện đại và những chỗ cần cẩn thận.
Vì sao nên ưu tiên vật liệu của vùng
Mỗi vùng có khí hậu riêng và vật liệu riêng đã thích nghi với nó. Gạch nung đồng bằng chịu được mưa ẩm khi tường đủ dày và có mái che; đá ong xứ Đoài cứng dần khi tiếp xúc với không khí; ngói đất nung thở được, giảm nóng dưới mái. Dùng đúng vật liệu đúng vùng là dùng kinh nghiệm tích luỹ của hàng trăm năm làm nhà, thứ không bản vẽ nào thay được.
Thứ hai là sửa chữa. Một trang viên cần bảo trì liên tục: thay ngói vỡ, vá tường, thay ván gỗ. Vật liệu sẵn có trong vùng thì thợ địa phương có kinh nghiệm, vật tư thay thế dễ tìm, màu và kích thước khớp với phần cũ. Vật liệu nhập từ xa, kiểu dáng đặc biệt, có khi vài năm sau đã ngưng sản xuất, để lại những mảng vá lệch màu.
Thứ ba là cảnh quan. Ngôi nhà làm bằng đá, đất, gỗ của chính nơi đó tự nhiên hoà vào màu đất, màu cây quanh nó. Nhìn những làng cổ như Đường Lâm ở Sơn Tây (Hà Nội), cả làng gần như cùng một bảng màu đá ong, gạch, ngói, và chính sự nhất quán ấy làm nên vẻ đẹp.
Thứ tư là vận chuyển. Vật liệu khai thác gần thì bớt quãng đường chở, bớt xe nặng chạy trên đường làng, đường đồi. Với khu đất ở xa, đường vào hẹp hoặc dốc, đây là yếu tố thực tế quyết định nhiều lựa chọn.
Các vật liệu bản địa và chỗ dùng hợp
Bảng dưới tóm tắt những vật liệu hay gặp, vùng có truyền thống dùng, và chỗ hợp nhất trong một nhà chính trang viên.
| Vật liệu | Vùng quen dùng | Dùng hợp nhất ở | Cần lưu ý |
|---|---|---|---|
| Gạch nung thủ công | Đồng bằng, trung du khắp cả nước | Tường, sàn, lối đi, gạch trần trang trí | Hút nước; cần mái che và chân tường chống ẩm |
| Đá ong | Xứ Đoài (Sơn Tây, Thạch Thất, Hà Nội), một số vùng trung du | Tường bao, móng, tường rào, chân tường | Bề mặt rỗ dễ bám rêu; khối nặng, cần móng tốt |
| Đá bazan, đá chẻ | Tây Nguyên, Lâm Đồng, vùng núi lửa cổ | Chân tường, kè, bậc thềm, lối đi | Rất nặng; kè đá phải có kỹ sư tính |
| Gỗ | Vùng đồi, trung du, nhà truyền thống mọi miền | Khung, cửa, sàn, trần | Phải có nguồn gốc hợp pháp; chống mối, ẩm |
| Ngói đất nung | Bắc Bộ (ngói mũi hài, ngói ta), Huế (ngói liệt), Hội An (ngói âm dương) | Mái chính, mái hiên | Nặng, cần khung chắc, độ dốc đủ |
| Đất nện (trình tường) | Vùng núi phía Bắc | Tường bao dày, giữ nhiệt | Cần mái che rộng và chân tường đá; kỹ thuật chuyên |
| Tre, nứa | Hầu khắp nông thôn | Giàn, lam, vách nhẹ, chòi vườn | Phải xử lý chống mọt; tránh tiếp xúc đất ẩm |
Không cần dùng tất cả. Một nhà chính đẹp thường chỉ dùng hai đến bốn vật liệu chính, lặp lại nhất quán trong toàn bộ quần thể trang viên.
Gạch nung và ngói đất: bộ đôi của đồng bằng
Gạch nung thủ công đốt trong lò củi hoặc lò đất có màu không đều, từ đỏ cam đến nâu sẫm, cạnh hơi méo. Chính sự không đều ấy cho bức tường gạch trần vẻ sống động mà gạch công nghiệp đều tăm tắp không có. Gạch thủ công thường hút nước nhiều hơn, nên tường gạch trần ngoài trời cần mái đua che, chân tường có lớp chống thấm ngược và bề mặt có thể phủ một lớp chống thấm thoát hơi.
Ở nhiều vùng, các lò gạch thủ công đã giảm mạnh vì quy định về môi trường, chuyển sang lò tuynel và gạch không nung. Gạch tuynel chất lượng ổn định, có thể chọn loại màu sẫm, mặt nhám để gần với gạch thủ công. Gạch cũ tháo từ nhà xưa là lựa chọn được nhiều người yêu thích: đã được nung kỹ, đã chịu thời tiết, màu đã trầm. Gạch cũ cần được làm sạch vữa, loại bỏ viên nứt, viên mủn trước khi xây lại.
Ngói đất nung đi cùng gạch như một cặp. Mỗi vùng có kiểu ngói riêng: ngói mũi hài lợp nhiều lớp ở các đình, nhà cổ Bắc Bộ; ngói liệt mỏng xếp chồng ở nhà rường Huế; ngói âm dương lợp ngửa – úp ở phố cổ Hội An. Ngói đất nung thoát hơi, mát hơn tấm lợp kim loại khi nắng, nhưng nặng, cần khung mái chắc và độ dốc đủ để nước không thấm qua mí. Ngói cũ tái sử dụng cũng cần chọn lọc kỹ, loại viên nứt chân chim.
Sàn gạch nung, gạch bát, gạch lá nem ở hiên và gian sinh hoạt là chi tiết làm nên cảm giác nhà vườn: mát chân, không trơn bằng đá bóng, càng lau càng lên nước. Gạch sàn ngoài trời nên chọn loại nung già, ít hút nước để không vỡ và rêu.
Đá ong, đá bazan và đá chẻ
Đá ong có tính chất đặc biệt. Đá ong là sản phẩm phong hoá giàu sắt và nhôm. Khi còn trong lòng đất, nó tương đối mềm, cắt được thành khối; sau khi đưa lên và phơi ra không khí, nó cứng dần. Đây là lý do làng cổ xứ Đoài dùng đá ong làm tường nhà, tường rào, cổng, giếng.
Đá ong cần thoát ẩm. Bề mặt đá ong rỗ, giữ nước, dễ bám rêu và mốc ở mặt khuất nắng. Tường đá ong làm nhà ở nên có mái che rộng và lớp vữa hoặc lớp trát bên trong để phòng khô ráo.
Đá bazan và đá chẻ cho chân nhà vùng đồi. Ở cao nguyên, đá bazan đen xám và các loại đá chẻ là vật liệu sẵn có cho chân tường, bậc thềm, lối đi, kè thấp. Đá đặt dưới chân nhà gỗ tạo lớp chống ẩm và chống mối tự nhiên.
Kè đá là công trình kết cấu. Kè và tường chắn đất bằng đá xếp khan hay đá xây vữa trông đơn giản nhưng phải chịu áp lực đất và nước rất lớn, nhất là sau mưa dài. Mọi kè cao hơn tầm người, kè dưới móng nhà hay dọc đường nội bộ cần kỹ sư tính toán.
Nguồn gốc đá. Đá mua phải từ nơi khai thác hợp pháp. Không lấy đá từ suối, sườn núi, di tích hay tường làng cổ, dù là đá đã rơi rụng.
Gỗ, tre và đất nện
Gỗ là vật liệu chung của nhà truyền thống mọi miền, nhưng gỗ tốt ngày nay hiếm và phải có nguồn gốc hợp pháp. Với nhà chính trang viên, gỗ nên dồn vào những chỗ người chạm tay và nhìn thấy nhiều nhất: cửa, khung cửa sổ, trần gian sinh hoạt, cột hiên, sàn phòng ngủ. Phần kết cấu ẩn có thể là bê tông hoặc thép. Gỗ rừng trồng đã xử lý và sấy, gỗ ghép, gỗ tái sử dụng từ nhà cũ có giấy tờ là các lựa chọn bền vững.
Tre là vật liệu bản địa phổ biến nhất ở nông thôn Việt Nam, nhẹ, khoẻ, mọc nhanh. Tre dùng làm giàn cây, lam che nắng, vách nhẹ, chòi vườn, trần trang trí. Tre chưa xử lý bị mọt rất nhanh; tre làm nhà cần được ngâm, sấy hoặc xử lý chống mọt, giữ khô, không chôn trực tiếp xuống đất. Kết cấu tre nhịp lớn là lĩnh vực chuyên môn riêng, cần người có kinh nghiệm thiết kế.
Đất nện, hay nhà trình tường, là kỹ thuật dồn đất ẩm vào khuôn ván rồi nện chặt từng lớp, quen thuộc ở một số dân tộc vùng núi phía Bắc. Tường đất dày giữ nhiệt tốt, ấm về đêm, mát ban ngày. Kỹ thuật này đang được một số kiến trúc sư làm lại cho nhà vườn, nhưng đòi hỏi đất phù hợp, chân tường đá cao, mái che rộng và người thợ hiểu nghề. Không nên tự làm theo hướng dẫn trên mạng cho tường chịu lực.
Kết hợp vật liệu bản địa với vật liệu hiện đại
Hầu hết nhà chính trang viên hôm nay là nhà lai: khung bê tông cốt thép hoặc thép chịu lực, tường bao và mặt ngoài bằng gạch, đá, gỗ; mái ngói đất trên khung thép mạ. Cách làm này cho phép nhịp rộng, chịu động đất và bão tốt hơn, trong khi vẫn giữ được bề mặt và cảm giác của vật liệu vùng.
Điều quan trọng là để vật liệu bản địa làm đúng việc của nó, không chỉ dán lên như lớp trang trí. Tường gạch trần thật, dày, có khả năng giữ nhiệt và thoát ẩm khác hẳn một lớp gạch ốp mỏng dán lên tường bê tông. Ngói đất lợp trên mái dốc thật có khoảng thông gió bên dưới khác hẳn ngói dán lên mái bê tông phẳng.
Chỗ tiếp giáp giữa hai loại vật liệu là chỗ hay hỏng: gỗ chạm bê tông dễ mục vì đọng ẩm, đá ghép với gạch nứt vì giãn nở khác nhau. Tách chúng bằng một khe nhỏ, một lớp chống ẩm, một chân đế kim loại, và để kỹ sư, thợ có kinh nghiệm xử lý các chi tiết này.
Bảo trì vật liệu bản địa qua các mùa
Trước mùa mưa. Kiểm tra mái ngói, thay viên vỡ, dọn máng xối; xem chân tường gạch, đá ong có chỗ nào đọng nước, dọn đất và cây bụi lấn sát chân tường để tường khô nhanh sau mưa.
Sau mùa mưa. Tìm vết thấm, vết mốc ở mặt trong tường và trần gỗ; cạo rêu ở lối đi lát gạch, đá để tránh trơn trượt cho người già, trẻ nhỏ. Kiểm tra mối ở chân cột gỗ, chân cửa.
Mùa khô. Đây là mùa làm việc lớn: quét vôi lại tường, dầu lại cửa gỗ, xử lý tre, vá vữa mạch gạch. Vật liệu khô cho lớp phủ bám tốt hơn.
Giữ một kho vật liệu dự phòng. Một ít gạch, ngói, đá, gỗ cùng loại cất trong kho giúp mỗi lần sửa có đúng màu, đúng cỡ. Đánh dấu loại, năm, vị trí đã dùng để người giữ nhà biết lấy gì thay chỗ nào.
Câu hỏi thường gặp
Gạch thủ công có bền bằng gạch tuynel không?
Gạch thủ công nung già, được chọn lọc thì rất bền, nhiều bức tường còn đứng sau cả trăm năm. Nhưng chất lượng giữa các mẻ lò không đều, có viên non lửa dễ mủn. Gạch tuynel đều chất lượng hơn. Với tường chịu lực, nên chọn gạch đạt tiêu chuẩn; gạch thủ công hợp với tường bao, sàn và mảng trang trí.
Đá ong có dùng làm tường nhà ở được không?
Được, nhà cổ xứ Đoài đã làm vậy hàng trăm năm. Điều kiện là tường đủ dày, có mái che rộng, chân móng khô ráo và mặt trong được xử lý cho phòng không ẩm. Với nhà ở hiện đại, nhiều nơi dùng đá ong cho tường bao, tường rào, mảng chân tường, phần ở bên trong là tường gạch trát.
Có nên dùng gạch và ngói cũ từ nhà xưa?
Gạch và ngói cũ đẹp, đã ổn định màu, và là cách tái sử dụng tốt. Cần chọn lọc kỹ, loại bỏ viên nứt, viên mủn, làm sạch vữa và rêu. Nên mua dư một phần để thay thế về sau. Nguồn gốc phải rõ, không mua vật liệu tháo từ di tích hay công trình được bảo vệ.
Vật liệu bản địa có rẻ hơn vật liệu công nghiệp không?
Không nhất thiết. Vật liệu có thể có sẵn quanh vùng, nhưng công thợ thủ công, thời gian thi công và việc chọn lọc có khi tốn hơn. Lợi ích thật nằm ở độ bền với khí hậu, việc dễ sửa chữa bằng thợ địa phương và vẻ đẹp hoà vào cảnh quan qua nhiều năm.
Mái ngói đất có nặng quá cho khung thép mạ không?
Khung thép mạ hoàn toàn có thể đỡ mái ngói nếu được tính đúng tải trọng, đúng khoảng cách vì kèo và liên kết. Mái ngói nặng hơn tấm lợp kim loại nhiều lần, nên phải để kỹ sư tính khung, không lấy khung tính cho mái tôn rồi lợp ngói.
Tre làm nhà có bền không?
Tre được xử lý đúng cách, giữ khô, không chạm đất và có mái che có thể dùng nhiều năm. Tre không xử lý có thể bị mọt chỉ sau vài tháng. Với nhà chính, tre hợp cho các bộ phận phụ như lam, giàn, vách trang trí hơn là kết cấu chịu lực chính, trừ khi có người thiết kế chuyên về kết cấu tre.